Freespeechforvietnam’s Weblog

September 22, 2007

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI MANILA NGÀY 22.9.2007

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 4:49 pm

********************************************************************************
Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam
& Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam
Que Me : Action for Democracy in Vietnam & Vietnam Committee on Human Rights
Que Me : Action pour la Démocratie au Vietnam & Comité Vietnam pour la Défense des Droits de l’Homme
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : queme@free.fr – Web : http://www.queme.net
********************************************************************************

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI MANILA NGÀY 22.9.2007
Hội nghị Dân chủ Á châu họp tại Manila tố cáo chính quyền Việt Nam độc đoán, lên tiếng ủng hộ tiến trình Dân chủ hóa Việt Nam và công cuộc cứu trợ Dân oan khiếu kiện của Hòa thượng Thích Quảng Độ

MANILA, ngày 22.9.2007 (QUÊ MẸ) – Một trăm đại biểu thuộc 20 quốc gia Châu Á đã về thủ đô Manila, Phi Luật Tân, tham dự Hội nghị lần thứ nhì của “Diễn Đàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu” từ ngày 19 đến 21.9.

“Diễn đàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu” ra đời năm 2005, là một liên minh của 5 tổ chức, gồm có : Ðài loan Dân chủ Cơ kim hội do ông Lâm Văn Trình làm chủ tịch, Á châu Cải cách Dân chủ Liên minh ở Singapore do ông Chee Soon Juan làm chủ tịch, Ðông Nam Á Quốc hiệp Thế đại Võng lạc, Miến Ðiện, do chị Deborah Stothard làm chủ tịch, Quốc tế Ðối thoại Xướng nghị Tổ chức ở Phi Luật Tân do ông Augusto P. Miclat làm chủ tịch và Diễn đàn Dân chủ Á châu do ông Võ Văn Ái làm chủ tịch. Hiện nay Diễn đàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu có 20 quốc gia thành viên tại Châu Á.

Thượng Nghị sĩ Quốc hội Phi Luật Tân, ông Benigno S. Aquino III, Cựu Thủ tướng Mã Lai, Tiến sĩ Anwar Ibrahim, cùng với năm vị Chủ tịch trong Ban Thường vụ thuộc năm tổ chức liên minh sáng lập Diễn đàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu, ông Lâm Văn Trình, ông Võ Văn Ái, ông Augusto P. Miclat, bà Deborah Stothard và bà Zanaa Jurmed chủ trì cuộc họp báo bế mạc hội nghị vào chiều ngày 21.9 để công bố bản “Tuyên ngôn Manila” và “Khung hành động cho hai năm 2007-2009″. Hai văn kiện được toàn thể các đại biểu thuộc 20 quốc gia Châu Á đồng thanh thông qua trước đó. Ðây là thành quả hết sức quan trọng sau 3 ngày hội nghị.

Bản “Tuyên ngôn Manila của Diễn Ðàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu” đưa ra những nhận định về hiện trạng thiếu dân chủ và phi dân chủ tại Châu Á, đề cao các giá trị phổ quát và những nguyên tắc lập thành dân chủ, cũng như kêu gọi hành động bằng những sách lược cụ thể và thích nghi. Bản Tuyên ngôn liệt Việt Nam vào danh sách các quốc gia độc đoán tại Châu Á như Trung quốc, Miến Điện, Lào, Tây Tạng, v.v…

“Khung hành động cho hai năm 2007-2009″ đề xuất một chương trình hoạt động cụ thể tại 20 quốc gia Châu Á, (Bhutan, Miến Ðiện, Trung quốc, Lào, Bắc Triều tiên, Tây Tạng, Việt Nam, Cam Bốt, Hồng Kong, Mã Lai, Nepal, Pakistan, Singapore, Bangladesh, Indonesia, Mông cổ, Phi Luật Tân, Sri Lanka, Thái Lan và Timor-Leste).

Riêng phần Việt Nam, thì hội nghị nhất tâm hậu thuẫn 6 tiêu điểm chiến lược thực thi cho 2 năm tới:

1. Vận động trả tự do cho nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Ðộ, 350 đồng bào Thượng cũng như tất cả những tù nhân vì lương thức bị bắt giam vì biểu tỏ ôn hòa đòi hỏi dân chủ và nhân quyền ;

2. Ủng hộ và phát huy “Lời kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam” của Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, một chương trình 8 điểm nhằm chuyển hóa dân chủ tại Việt Nam mà cũng là hội điểm kết hợp các thành phần chính trị và tôn giáo của dân tộc đấu tranh cho dân chủ, đặc biệt đòi hỏi cho tự do ngôn luận và báo chí ;

3. Tiếp tục vận động trong khu vực đòi hủy bỏ các sắc luật hạn chế tự do, đặc biệt là Pháp lệnh số 44 về “quản chế hành chính” cho phép giam giữ các nhà ly khai không thông qua tòa án hoặc đưa vào các nhà thương điên (như dưới thời Liên Xô cũ) ;

4. Chuẩn bị ấn hành “Bạch thư về cải cách luật pháp” để thông tin các chính phủ, các nhà tài trợ hầu thông qua họ áp lực cho việc cải cách luật pháp tại Việt Nam phải tuân thủ các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế ;

5. Mở chiến dịch vận động hậu thuẫn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ trong công cuộc cứu trợ Dân oan khiếu kiện, một phong trào nông dân phản đối nhà cầm quyền cướp đất. Cuộc vận động này nhằm bảo vệ mọi cuộc bắt bớ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào đối với Hòa thượng Thích Quảng Độ đồng thời áp lực nhà cầm quyền Việt Nam giải quyết việc đàn áp quần chúng nông dân; và

6. Vận động cho giới quan sát quốc tế có thể đến điều tra nhân quyền tại các vùng đồng bào Thượng cư ngụ để giải quyết việc cưỡng chiếm đất đai hoặc đàn áp những người Thượng theo Thiên chúa giáo tại gia.

Ba ngày hội nghị cũng như cuộc họp báo kết thúc đã được các báo chí tại thủ đô Manila tường thuật trang trọng, đặc biệt trên các nhật báo Manila Bulletin (The Nation’s leading newspaper), Business Mirror, The Star, v.v…

Hội nghị lần thứ nhì của “Diễn Đàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu” tập trung vào ba tổ hội thảo mà nội dung thấy rõ là sự tiến hành công cuộc dân chủ hóa tại các quốc gia Châu Á tùy theo mức độ chính trị nơi các quốc gia này : Thứ nhất là “Hỗ trợ dân chủ hóa trong các xã hội còn đóng kín” như tại các nước Trung quốc, Miến Điện, Bắc Hàn, Việt Nam, Lào và Tây Tạng. Thứ hai là “Hỗ trợ dân chủ hóa tại các quốc gia chuyển tiếp”, như Cam Bốt, Bangladesh, Hồng Kông, Mã Lai, Népal, Pakistan, Singapore và Thái Lan. Thứ ba là “Hỗ trợ gia cố dân chủ” tại Nam Dương, Mông Cổ, Phi Luật Tân, Sri Lanka và Timor Leste.

Điều đặc biệt là hội nghị kỳ này các đại biểu rất quan tâm đến vấn đề Việt Nam. Không như hai năm trước đây, một số đại biểu còn rất mù mờ.

Hội nghị khai mạc với Lời kêu gọi cho dân chủ của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ trong một băng hình sống động về các hình ảnh vi phạm nhân quyền hay đời sống khốn khó của đại đa só quần chúng tại Việt Nam. Sự đóng góp của Phái đoàn Việt Nam rất tích cực. Ông Võ Văn Ái tham gia bằng ba tham luận. Tham luận thứ nhất trong ngày khai mạc là “Vai trò của Diễn đàn Thế giới Dân chủ hóa Á châu trong công cuộc dân chủ hóa toàn cầu”, tham luận thứ hai trình bày “Trường hợp Việt Nam” tại Tổ hội thảo về “Hỗ trợ dân chủ hóa trong các xã hội còn đóng kín”. Và tham luận thứ ba nói về “Phương cách bảo vệ các xã hội dân sự”. Chị Ỷ Lan giới thiệu văn bản “Khung hành
động cho hai năm 2007-2009″ vào phiên họp kết thúc để lấy ý kiến thông qua.

Thượng tọa Thích Viên Lý và Thượng tọa Thích Giác Đẳng đại diện Văn phòng II Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, được hội nghị mời tham dự cùng với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác cầu nguyện cho Hòa bình.

Ngày bế mạc, 21.9, cũng là Ngày Hòa bình Quốc tế, nên hội nghị lấy sáng kiến tổ chức lễ Cầu nguyện cho Hòa bình Thế giới rất trang nghiêm và cảm động. Lần lượt lên sân khấu đọc các lời Cầu nguyện theo nghi thức tôn giáo khác nhau là chư vị : Thượng tọa Nichigyo và Đại đức Dim Chetta thuộc hệ phái Tứ phương Tăng Nhật bản, Thượng tọa Thích Viên Lý cầu nguyện Tiêu tai Cát tường theo hệ thống Bắc tông, Thượng tọa Thích Giác Đẳng đọc lời cầu nguyện theo hệ thống Nam tông, Tổng Giám mục Efraim M. Tendoro ban Đạo từ Hòa bình theo tinh thần Thiên Chúa, Sister Cres Lucero thuộc Dòng Franciscans nói lời huynh đệ yêu thương bốn bể, Giáo sĩ Hồi giáo Ustadz Mahmod Adilao ban lời thuyết giảng Hòa bình.

Ngoài việc tham gia Hội nghị, Phái đoàn Việt Nam cũng vận động các đại biểu phó hội ký tên vào kiến nghị thư của Cơ sở Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam gửi các quốc gia tham dự Đại hội đồng LHQ yêu cầu không bỏ phiếu cho ứng viên Việt Nam Cộng sản bao lâu nước này chưa tuân thủ các điều kiện LHQ quy định trên lĩnh vực an ninh và nhân quyền. Kiến nghị đã được đại biểu 20 quốc gia Châu Á ký tên hậu thuẫn. Từ Phi Luật Tân, ông Võ Văn Ái sẽ bay sang LHQ ở Nữu Ứơc tham dự cuộc họp với Cộng đồng các Quốc gia Dân chủ tại LHQ đồng thời tiếp tục cuộc vận động này.–

Phải đưa Nguyễn Tấn Dũng ra toà

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 3:21 pm

Phải đưa Nguyễn Tấn Dũng ra toà
Diễn Đàn 14/09/2007

CĐ Người Việt Tị Nạn CS phải đưa NTD ra tòa về những tội ác giết nhiều người
Và tội ác của Nguyến Tấn Dũng là gì ?

Ai là nhân chứng, Ai có bằng chứng
về những tội ác của tên Nguyễn tấn Dũng

xin liên lạc với TruyToNTD@yahoo.fr
để lôi nó ra Toà như trường hợp Pinochet
ngày 16/10/1998 tại Luân Đôn.

1 – Tên sát nhân Việt Gian Nguyễn Tấn Dũng có tội làm Việt Gian bán nước, làm tay sai cho Tàu, bán phụ nữ trẻ em từ 4 tuối trở lên . Dữ kiện này CNN đã trình chiếu nhiều lần. Chúng đưa ra chính sách cho công an lục lọi khắp làng xã cướp đất đẩy đời sống nông dân đến khốn khổ cùng cực và dùng chính sách chiêu dụ, rũ reng, hay bắt cóc, cưởng bức phụ nữ trẻ em bán cho các ổ điếm Thai lan, Cam bốt, Lào, Miến điện, Trung đông, Singapore, Đài loan, Đại Hàn … bọn chúng cướp đất đai nhà cửa để nhân dân phải lang thang trở thành dân oan, trở thành đói nghèo phải bỏ nước ghi danh làm lao động, nô lệ quốc tế. Đó là những trọng tội với nhân dân Việt Nam và tổ quốc.

2 – Tên sát nhân Việt Gian Nguyễn Tấn Dũng có tội với những người yêu nước là tổ chức lập kháng chiến ma Việt Nam Phục Quốc gài bẩy bắt nhiều người thanh niên, tra tấn dã man và đưa đi nhiều người dân vô tội xử bắn,

3 – Tên Việt Gian khát máu Nguyến Tán Dũng có tội với người Việt tị nạn Cộng Sản là chính nó âm mưu, tổ chức đi chui, đi bán chánh thức, bán bãi, bán ghe tàu để thu gom tiền, lường gạt, cướp tài sản, cướp vòng vàng, đẩy thuyền nhân lên ghe tàu và cho đồng bọn người nhái lặn theo ghe, tàu cài đặt chất nổ giết hết những thuyền nhân tị nạn. Những ai còn sống sót lội vào bờ đểu bị bắt, hay bị nhận chìm xuống nước. Nhiều thiếu phụ tay nách con lội vào bờ bị đập đầu chìm xuống nước chết. Dân làng chung quanh muốn ra cứu vớt người vô tội bị chúng dí súng vào đầu cấm cứu người. Những ai trong cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản là nhân chứng sống hoặc có thân nhân bị giết, bị mất tích, cá nhân hay thân nhân bị tù tội, bị tra tấn, bị hãm hiếp bởi đám tay sai của Việt Gian Nguyễn Tấn Dũng cần lên tiếng thưa tên sát nhân Nguyến Tấn Dũng ra tòa hình sự, yêu cầu trát tòa tầm nã bất cứ nơi nào tội phạm Nguyến Tấn Dũng đi đến.

(Chú thích) Theo bài viết của Nguyễn Trung Chính thì tiểu sử của tên sát nhân Việt Gian Nguyễn Tấn Dũng rất mơ hồ : Theo tiểu sử chính thức của ông thì ông là con của tướng Nguyễn Tấn Minh nhưng cả nước biết ông mồ côi cha rất sớm và trở thành con nuôi của ông Lê Đức Anh. Ông sinh ngày 17/11/1949 tại thị xã Cà Mau.

Có dư luận cho biết là tên sát nhân Nguyễn Tấn Dũng là con Chệt, con của Tàu Cộng nên chuyện nó thường xuyên đi qua Tàu cộng để chầu chúa xin chỉ thị và trở về nước nỗ lực thi hành chính sách biến Việt Nam trở thành tỉnh Giao chỉ của Tàu. Ngoài ra, tên sát nhân Việt Gian Nguyễn Tấn Dũng còn đem cái mồm đi sục sạo các quốc gia vùng Nam Mỹ, Liên bang Nga, Đông âu … để làm loa tuyên truyền, loa thông tin, loa chỉ thị cho chúa Tàu cộng.

Trong giai đoạn 1981–1993 này Nguyễn Tấn Dũng lên chức ào ạt nhờ Lê Đức Anh đã trở thành cánh tay mặt của Lê Đức Thọ. Ông lên tới cấp bậc trung tướng và trở thành thứ trưởng thứ nhất bộ công an. Điều dối trá của tiểu sử chính thức là nó đã mô tả Nguyễn Tấn Dũng như một cán bộ làm công tác đảng và công tác hành chính. Thực sự thì trong giai đoạn 1981–1987 Nguyễn Tấn Dũng là trưởng công an huyện Hà Tiên và được giao một công tác cực kỳ quan trọng : làm kinh tài cho đảng bằng cách tổ chức buôn lậu tại của biển Hà Tiên. Những ai từng ở Rạch Giá trong giai đoạn này đều đã thấy mỗi đêm cửa biển Hà Tiên rực sáng vì hàng ngàn thuyền buôn lậu Thái Lan đến đậu ngoài khơi với đủ thứ hàng chờ các thuyền con từ đất liền ra “ăn hàng”. Trong thời gian này Nguyễn Tấn Dũng cũng đã lập một thành tích lớn và được phong “anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” nhờ gài bẫy bắt được Trần Văn Bá, một chiến sĩ Kháng Chiến Phục Quốc trở về từ Paris.

Cần lưu ý là trước đó, trong các năm 1976–1977 Nguyễn Tấn Dũng, dưới lệnh của Võ Văn Kiệt và Võ Viết Thanh cùng đã tham gia vào một tội ác đẫm máu khác : thành lập tổ chức kháng chiến giả mang tên là «Đảng Việt Nam Phục Quốc» để gài bẫy bắt những thanh niên miền Nam chống chế độ cộng sản. Hàng ngàn thanh niên đã sa lưới, và dù họ chỉ là những thanh niên ngây thơ bị mắc lừa nhiều người đã bị xử bắn.

September 19, 2007

Gởi thư cho các nơi báo động kêu cứu

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 11:31 am

Chùa Liên Trì ; Số 153 Lu*o*ng Đình Cua? ..; Phu*o*ng An Khánh Quâ.n 2 Sai Gòn ; Sô’ Tel: 00848- 021207

(No*i thu*o*.ng tòa Thích Không Tánh Tru. Trì)

Tel US embassy in Hanoi 01184 4 850 5000

RAFTO : http://www.raftohuset.no/Default.aspx?tabid=588

Phong thong tin lanh su hoa ky tai sai gon so DT la 848 510 8844

Van phong dang Viet tan Ly thai Hung lam Bi thu 4083478830 USA

Gởi thư cho các nơi báo động kêu cứu

Dear Senator …. My Name Is……, I am a Representative for the VietNamese community of …… Our Community ask me to write a letter to you to ask you for your help. Tonight at 7PM, there is a meeting was organized by the goverment of AnKhanh area in order to harash Ven Thich Khong Tanh . We would like to inform you that you may help by contacting the State Department and US Embassy in VietNam to try and stop the harrasment.

Địa chỉ email hữu ích :

1) www.congress.gov

2) Các Dân biểu Hoa Kỳ và các nơi

_ so dt cua UBMTTQ Quan 2 : (0084-8)7.420.793 – (084-8)7.421.503

_ so dt cua UBMTTQ TP : (0084-8) 8279029 ; 8223212- 8244848 ; (0084-8)8221368 – 8244848

_so dt tru so HDNDTP :( 0084-8).8275074

_Sô’ dt doan DBQH TP : (0084-8) 8295353

_so dt UBND quan 2 : (84.8) 7400509

ĐỊA CHỈ CẦN BIẾT

Văn phòng Chính phủ
Địa chỉ: 7 Lê Duẩn, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 825.1763

Quận Uỷ quận 1
Địa chỉ: 30 Phùng Khắc Khoan, Quận1
Ðiện thoại: (08) 8293480

Thanh tra Nhà nước
Địa chỉ: 496 Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, Quận 3
Ðiện thoại: (08) 832.2481
Fax: (08)832.2481

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận 1
Địa chỉ: 47 Lê Duẩn, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.9528

Tòa án nhân dân tối cao – Cơ quan thường trực tại phía Nam
Địa chỉ: 124 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận1
Ðiện thoại: (08) 822.5958 – (08) 529.8771

Tòa án nhân dân quận 1
Địa chỉ: 6 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Qu
ận1
Ðiện thoại: (08) 822.2722 – (08) 829.2298 – (08) 829.6184

Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
Địa chỉ: 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08)829.8545
Fax: (08) 822.5132

BCH quân sự quận 1
Địa chỉ: 46 Nguyễn Đình Chiểu, Quận1
Ðiện thoại: (08) 091.01671

Ủy ban nhân dân TP.HCM
Địa chỉ: 86 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.5679 – (08) 825.0029

Viện kiểm sát nhân dân quận 1
Địa chỉ: 23 Nguyễn Trung Ngạn, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.7643

Công An TP.HCM
Địa chỉ: 168 Trần Hưng Ðạo, phường Phạm Ngũ Lão, Quận1
Ðiện thoại: (08) 833.0021 – (08) 839.8880 – (08) 839.8881

Công An quận 1
Địa chỉ: 73 Yersin, phường Cầu Ông Lãnh, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.7643

Thanh tra TP.HCM
Địa chỉ: 13 Trần Quốc Thảo, phường 6, Quận 3
Ðiện thoại: (08) 930.3997

Trung tâm Y tế quận 1
Địa chỉ: 338 Hai Bà Trưng, Phường Tân Định, Quận1
Ðiện thoại: (08) 820.2124

Tòa án nhân dân TP.HCM
Địa chỉ: 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.2448

Trung tâm TDTT quận 1
Địa chỉ: 143 Nguyễn Du, Quận1
Ðiện thoại: (08) 823.2255

Sở Ngoại vụ
Địa chỉ: 6 Alexandre, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 822.3032

Trung tâm Văn hóa quận 1
Địa chỉ: 6 Mạc Đĩnh Chi, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.3623

Sở Tài nguyên – Môi trường
Địa chỉ: 63 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 8.293.653
(08)8.231.806

Trung tâm Dạy nghề quận 1
Địa chỉ: 112 Nguyễn Đình Chiểu, Quận1
Ðiện thoại: (08) 822.7568

Sở Giao thông công chánh
Địa chỉ: 63 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 822.9360

CLB văn hoá – thể thao Nguyễn Du quận 1
Địa chỉ: 116 Nguyễn Du, Quận1
Ðiện thoại: (08) 824.6405

Sở Xây dựng
Địa chỉ: 60 Trương Định, phường 7, Quận 3
Điện thoại: (08)932.6214
Fax: (08)932.5056

UB Mặt trận Tổ quốc VN quận 1
Địa chỉ: 35 Phùng Khắc Khoan, Quận1
Ðiện thoại:(08) 829.6854

Sở Tư pháp
Địa chỉ: 143 Pasteur, phường 6, Quận 3
Điện thoại: (08)829.7052
Fax: (08)824.3155

Hội Liên hiệp Phụ nữ quận 1
Địa chỉ: 39 Phùng Khắc Khoan, Quận1
Ðiện thoại: (08)825.8394

Sở Tài chính – Vật giá
Địa chỉ: 142 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, Quận 3
Điện thoại: (08) 930.6572
Fax: (08)930.4663

Quận Đoàn 1
Địa chỉ: 3E Nguyễn Thành Ý, Quận1
Ðiện thoại: (08) 825.1861

Sở Giáo dục và Ðào tạo
Địa chỉ: 68-70 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện Thoại: (08) 829.9340

Liên đoàn lao động quận 1
Địa chỉ: 37 Hàn Thuyên, Quận1
Ðiện thoại: (08) 822.2981

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Địa chỉ: 176 Hai Bà Trưng, phường ÐaKao, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.4764
Fax: (08) 829.4764

Hội Chữ Thập Đỏ quận 1
Địa chỉ: 50 Thạch Thị Thanh, Quận1
Ðiện thoại: (08) 820.6625

Sở Kế hoạch và Ðầu tư
Địa chỉ: 32 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.5008
Fax: (08) 8290817

Hội Cựu Chiến binh quận 1
Địa chỉ: 148 Bis Nam kỳ khởi nghĩa, Quận1
Ðiện thoại: (080823.1234

Sở Thương mại
Địa chỉ: 59-61 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.2991
Fax: (08) 822.4536

Chi cục thuế quận 1
Địa chỉ: 115 Trần Quang Khải, Quận1
Ðiện thoại: (08) 843.5485

Sở Thể dục thể thao
Địa chỉ: 3 Phan Văn Ðạt, phường Bến Nghé, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.0672
Fax: (08) 824.4239

Đội Quản lý trật tự đô thị quận 1
Địa chỉ: 32-34 Cô Giang, Quận1
Ðiện thoại: (08)920.7283

Sở Văn hóa thông tin
Địa chỉ: 164 Đồng Khởi, phường Bến Nghé, Quận1
Điện thoại: (08) 822.4053

Đội Quản lý thị trường 1B
Địa chỉ: 29 Nguyễn An Ninh, Quận1
Ðiện thoại: (08) 829.4929

Sở Y tế
Địa chỉ: 59 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Thành, Quận1
Ðiện thoại: (08) 930.9912
Fax: (08) 930.9088

Công ty Quản lý nhà quận 1
Địa chỉ: 28-30 Nguyễn Thái Bình, Quận1
Ðiện thoại: (08) 821.5845

Sở Công nghiệp
Địa chỉ: 163 Hai Bà Trưng, phường 6, Quận 3
Điện thoại: (08) 829.6322 – (08)829.8018 – (08)822.1774
Fax: (08)822.1778

Công ty Công trình công cộng quận 1
Địa chỉ: 87 Bùi Thị Xuân, Quận1
Ðiện thoại: (08) 925.0860

Sở Du lịch
Địa chỉ: 140 Nguyễn Đình Chiểu, phường 6, Quận 3
Điện thoại: (08) 824.2903
Fax: (08)829.3056

Đội Thi hành án quận 1
Địa chỉ: 8 Trần Nhật Duật, Quận1
Ðiện thoại: (08) 920.4046 – (08) 920.4047 – (08) 920.4048

Sở Khoa học Công nghệ
Địa chỉ: 244 Điện Biên Phủ, phường 7, Quận 3
Điện thoại: (08) 932.7831
Fax: (08)932.5584

Kho bạc Nhà nước quận 1
Địa chỉ: 14 Nguyễn Thái Bình, Quận1
Ðiện thoại: (08)914.0217

Sở Lao động TBXH
Địa chỉ: 159 Pasteur, phường 6, Quận 3
Điện thoại: (08) 829.7446 – (08)829.9864
Fax: (08)829.4032

Ban Quản lý dự án quận 1
Địa chỉ: 151 đường Ký con, phường Nguyễn Thái Bình, Quận1
Ðiện thoại:(08) 404.1914

Sở Bưu chính – Viễn thông
Địa chỉ: 59 Lý Tự Trọng, Quận 1
Điện thoại: (08)822.3651

Ban bồi thường – giải phóng mặt bằng quận 1
Địa chỉ: 84T/15 Trần Đình Xu, Quận1
Ðiện thoại: (08) 920.4765

Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em quận 1
Địa chỉ: 365E Trần Hưng Đạo, Quận1
Ðiện thoại: (08) 920.6984

Nhà thiếu nhi quận 1
Địa chỉ: 7 Trần Cao Vân, Quận1
Ðiện thoại: (08) 823.8625


Các Trung tâm cai nghiện ma tuý


September 18, 2007

THỈNH NGUYỆN THƯ CHO VIỆN HOÁ ĐẠO VIỆT NAM

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 1:35 pm

Tiếng Nói Tự Do Dân Chủ Cho Người Dân Việt Nam
Hân hạnh chào đón tất cã các anh chị đa đen vối diển đàn, Tiếng Nói Tự Do Của Người Dân ViệtNam.

Dien Dan
Human Rights for Unified Buddhist Church of Vietnam

THỈNH NGUYỆN THƯ CHO VIỆN HOÁ ĐẠO VIỆT NAM

To: Us Congress

To : Secretary-General Ban Ki-moon
The Government of Vietnam,
The Governments of the Free World,
The Human Rights Organizations,
and The United States President and Congress

Venerable Thich Khong Tanh, Commissioner for Social and Humanitarian Affairs of the outlawed Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV) was
arrested outside the government Complaint’s Office at 110 Cau Giay Street at 8.00 am on Thursday 23rd August as he began distributing aid to the demonstrators.
Thich Khong Tanh arrived with a UBCV delegation in Hanoi on the 21st of
August with 300 million VNDs (approx. $19,000 US dollars) raised by the UBCV following an appeal launched by UBCV Deputy leader Thich Quang Do on the 10th of August 2007. He had hoped to distribute the money to the
dispossessed farmers and peasants, just as Thich Quang Do and a UBCV delegation had given aid to protesters outside the National Assembly’s southern office in Saigon on 17th July 2007. Thich Khong Tanh’s trip was the first in a series of planned initiatives to distribute funds donated by the Vietnamese people around the world to a “Relief Fund for Victims of
Injustice” set up by the UBCV. He arrived at 110 Cau Giay Street at 8:00am, a crowd of Security Police rushed towards the monk, surrounded him and placed him under arrest. Police seized the bundle of envelopes Thich Khong Tanh was about to distribute. Thich Khong Tanh was taken in a closed vehicle to another office some distance away. Thich Khong Tanh said the address was 1/34 Au Co Street. There, he was subjected to intensive interrogations by
several Security agents. However, he refused to answer their questions, stating that he had committed no crime and was simply exercising his legitimate right to freedom of religion and carrying out charitable acts. Thich Khong Tanh began a hunger strike, declaring that he would not have any food or drink nor answer any further questions until he was released.
A top Hanoi Security official, Lt. General Nguyen Van Huong, Vice-Minister of Public Security entered the room. Vice-Minister Huong expressed the government’s discontent of the UBCV’s support for the farmers and
peasants. He said “They are not poor at all, they possess billions of VND, but they are incited by hostile forces to file complaints in order to
oppose the government. I forbid you to distribute aid to these people. Instead, I suggest you give your money to the Vietnam Fatherland Front to relieve victims of Agent Orange. The government will commend your
efforts. Otherwise, you will be in serious trouble”. Thich Khong Tanh replied that many governments and organizations were
helping victims of Agent Orange, whereas the Victims of Injustice were in dire distress. Moreover, the money given by overseas the Vietnamese people to the UBCV Relief Fund could not be given to any other cause.
Last July The Norwegian Ambassador to Hanoi, visited Thich Quang Do.
Thich Quang Do laid down four conditions for Buddhist reunification in Vietnam.
1) that Hanoi should first re-establish the legal status of the banned
UBCV; 2) that Hanoi should restore all cultural, educational, religious,
humanitarian instiutions, as well as estates and property confiscated from the UBCV since 1975. First and foremost, Vietnam should immediately
return two key UBCV institutions, the Vietnam Quoc Tu Pagoda and the Quang Duc
Cultural Centre in Saigon to provide accommodation for the UBCV’s
Bi-cameral Institutes, the Institute of the Sangha (Vien Tang Thong) and
the Institute for the Dissemination of the Faith (Vien Hoa Dao);

3) that Vietnam should release the Vietnam Buddhist Church, set up by the
Communist Party and the government in 1981, from Communist Party control.
It should function independently, and not be a member of the CPV’s Vietnam
Fatherland Front; 4) that Vietnam should clarify the circumstances of the death of UBCV leader Thich Thien Minh who died under torture during
Police interrogations in Saigon in 1978.
Mr. President, the Unified Buddhist Church of Vietnam needs your help.
The government of Vietnam has harassed and placed people in prison. The government has taken away their people’s properties. The government has
outlawed the Unified Buddhist Church of Vietnam. Vietnam does not have
freedom of speech and religion, and most importantly a democracy. Mr.
President, if you could help them, than the Vietnamese people would
thank
you and never forget you. The government of Vietnam would no longer
outlaw
the Unified Buddhist Church of Vietnam, if you help them. Thank you for
your time.

Sincerely,

The Undersigned

View Current Signatures


http://www.petitiononline.com/vhd2007/petition-sign.html

DIEU 4 HIEN PHAP

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 10:29 am

Subject: RE: NGUYEN HUU THONG – DIEU 4 HIEN PHAP
THUA QUY VI VA CAC BAN,
DINH KEM THEO DAY LA BAI MINH DINH VOI ONG NGUYEN MINH TRIET VE DIEU 4 HIEN PHAP. DAY KHONG PHAI CHI LA TAI LIEU BIEN KHAO VE PHAP LUAT MA CON LA BAN CAO TRANG KET AN DANG CONG SAN TRUOC QUOC DAN VA LICH SU. YEU CAU QUY VI VA CAC BAN VUI LONG PHO BIEN RONG RAI TAI LIEU NAY CHO DONG BAO CAC GIOI TRONG VA NGOAI NUOC. XIN CAM ON, —-LS NGUYEN HUU THONG

MINH ĐỊNH VỚI ÔNG NGUYỄN MINH TRIẾT
VỀ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP
TRÊN QUAN ĐIỂM PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ, VĂN HÓAVÀ ĐẠO LÝ

LS. NGUYỄN HỮU THỐNG

Tháng 8 vừa qua, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nước, đã nói chuyện về Điều 4 Hiến Pháp với các cán bộ lãnh đạo và công nhân viên chức Tổng Cục Chính Trị Bộ Quốc Phòng.

Trong dịp này ông nhấn mạnh đến nhiệm vụ của Quân Đội Nhân Dân là xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. Mà muốn tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội phải xây dựng và bảo vệ Đảng Cộng Sản. Đó là lập trường bất di bất dịch : “Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 Hiến Pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát”.

Như vậy, đối với các cán bộ đảng viên, khẩu hiệu tuyên truyền chiến lược của Đảng Cộng Sản là: “Bỏ Điều 4 Hiến Pháp là bỏ Đảng, là tự sát”.

Trên quan điểm pháp lý và chính trị, văn hóa và đạo lý, chúng ta minh định với ông Nguyễn Minh Triết về Điều 4 Hiến Pháp.

Điều 4 viết: “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân … đại biểu trung thành của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và xã hội”. Điều này chép lại Điều 6 Hiến Pháp Liên Bang Sô Viết dành độc quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng Sản Liên Xô.

Sau cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu năm 1989 và tại Liên Xô năm 1991, tất cả các nước cộng sản cũ tại miền thế giới này đã đồng loạt xóa bỏ 3 điều trong Hiến Pháp:
1) Chủ Nghĩa Xã Hội Mác-Lênin và chế độ Chuyên Chính Vô Sản
2) Sự Độc Quyền Tư Tưởng và Độc Quyền Ý Thức Hệ
3) Chính sách Độc Đảng và Độc Quyền Lãnh Đạo của đảng cầm quyền.

Ngày nay, mặc dầu không còn “Điều 6 Hiến Pháp” tại Cộng Hòa Nga cũng như tại các quốc gia đã giã từ chế độ cộng sản, những thành phần giác ngộ và tiến bộ trong các đảng cộng sản cũ đã thay đổi chủ trương và tư duy để kết tập trong các tổ chức chính trị theo Chủ Nghĩa Dân Chủ Tự Do hay Dân Chủ Xã Hội (Democratic Socialism). Và, thay vì “tự sát”, họ vẫn có vai trò và chỗ đứng trong cuộc đấu tranh đại nghị đòi thực thi tự do nhân quyền cho người dân và phát triển kinh tế cho đất nước. Mấy năm trước đây, một vị lãnh đạo Đảng Cộng Sản Ba Lan cũ đã được quốc dân bầu vào chức vụ thủ tướng. Và đương kim Thủ Tướng Cộng Hòa Liên Bang Đức cũng là một nữ chính khách đã từng sinh hoạt trong chế độ Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức).

Đó là những dẫn chứng điển hình để phản bác lời tiên đoán có tính hù dọa của ông Nguyễn Minh Triết trước tập thể Quân Đội Nhân Dân bằng khẩu hiệu “Độc Đảng hay là Chết !”.

Cũng như tại các quốc gia văn minh trên thế giới, hai mục tiêu chiến lược của Việt Nam ngày nay là xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế xã hội. Công cuộc này đòi hỏi phải có tự do nhân quyền trong một nhà nước Dân Chủ Pháp Trị.

Điều nghịch lý là hiện nay hệ thống luật pháp thực dụng để phục vụ quyền lợi của Đảng CS không có tính Chính Thống Pháp Lý. Vì nó đi trái Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành để áp dụng cho tất cả mọi người.

Vì nhu cầu tuyên truyền đối ngoại, Hiến Pháp 1992 hiện hành đã ghi chép hầu hết những nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân, từ tự do dân sự, tự do tinh thần, tự do chính trị đến những quyền kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục. (Còn sự tước đoạt nhân quyền bẳng các đạo luật áp dụng vi hiến do quốc hội ban hành, cũng như bằng sụ giải thích luật pháp xuyên tạc của tòa án, lại là vấn đề khác).

Tuy nhiên, có hai ngoại lệ phát sinh từ thuyết Chuyên Chính Vô Sản là các hệ thống độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Hai độc quyền này được định chế hóa bởi Điều 4 Hiến Pháp. Hậu quả là Điều 4 có tác dụng phủ nhận toàn diện và phá vỡ tất cả những định chế hiến pháp dân chủ liên quan đến 26 nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân mà nhân loại văn minh đã khổ công xây dựng từ hàng trăm năm nay.

Trên bình diện chính trị và văn hóa đó là quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do tư tưởng, tự do văn hóa, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, quyền thông tin, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền, quyền tự do tuyển cử, quyền tự do lập đảng, quyền mít-tinh biểu tình, quyền khiếu nại khiếu tố, và đặc biệt là quyền đối kháng là một quyền liên lập và liên quan với quyền tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do lập đảng, tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền. Những quyền này được quy định trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc mà các quốc gia hội viên kết ước đã minh thị cam kết sẽ tôn trọng và thực thi.

Về mặt pháp lý và chính trị, văn hóa và đạo lý, Điều 4 Hiến Pháp đi trái Luật Quốc Tế Nhân Quyền, phản lại Hiến Pháp và đi trái Lòng Dân.

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP ĐI TRÁI LUẬT
QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN.

Năm 1977, Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc và có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng, bảo vệ và thực thi những điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998).

Năm 1982 Việt Nam tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị (Công Ước Dân Sự Chính Trị). Về mặt quốc tế công pháp, Công Ước này đã được chính phủ ký kết và quốc hội phê chuẩn, nên có giá trị là một hiệp ước quốc tế, và có hiệu lực pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.

Trên bình diện pháp lý và đạo lý, muốn có chính thống phải đặt vấn đề Chính Danh. Người xưa nói: “ Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì việc mới thành”. Quan niệm Chính Danh do các nhà hiền triết Đông Phương đề xướn
g từ 2500 năm để phân biệt trắng đen, phải trái, chính tà, thiện ác. Ngày nay, hơn bao giờ hết, nó có tính thời sự. Do chính sách thông tin một chiều, với tuyên truyền dối trá, che dấu sự thật, không trọng lẽ phải, văn hóa và đạo lý.
Về mặt chính trị xã hội, với quan niệm Chính Danh, chúng ta phân biệt Dân Chủ và Chuyên Chế, Dân Chủ Pháp Trị và Độc Tài Đảng Trị, Công Lý và Bất Công, Nhân Quyền và Bạo Quyền. Mà muốn có dân chủ pháp trị phải có xã hội đa nguyên và chính trị đa đảng. Trong chế độ độc tài đảng trị chúng ta gặp trở ngại do cái gọi là chuyên chính vô sản, chuyên chính tư tưởng, pháp quyền XHCN và dân chủ tập trung.

Dân chủ tập trung là gì? Theo Hồ Chí Minh “dân có quyền có tài sản: đó là dân chủ. Nhưng vì dân không biết giữ nên phải giao cho Chủ Tịch Đảng giữ dùm. Chủ Tịch bỏ vào rương, khóa lại và cất chìa khóa vào túi: đó là tập trung”. Tài sản ở đây có thể là ruộng đất mà Đảng CS đã công hữu hóa, mà cũng là quyền lợi của công dân, như những quyền dân sự chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục. Những quyền này được Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng và bảo vệ, nhưng đã bị Đảng cất giữ và khóa kín không cho Dân sử dụng.

Từ thập niên 1910 Nguyễn Tất Thành có chấp phụ là Phan Chu Trinh, sư phụ là Phan Văn Trường, có các chiến hữu như Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và các đồng chí như Leon Blum, Maurice Moutet trong Đảng Xã Hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc không phải là tên riêng của ông, mà là bút hiệu chung của “Ngũ Long” Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành. Dưới bút hiệu này, họ đã viết những bài đòi quyền Dân Tộc Tự Quyết trên các báo Xã Hội như Humanité (Nhân Loại) hay Le Populaire (Dân Chúng). Nhưng từ các thập niên 1920 và 1930, khi quy phục Stalin và Mao Trạch Đông trong các Đảng Cộng Sản, gần mực thì đen, Hồ Chí Minh đã trở thành vô minh quên hết tình tự dân tộc chỉ nghĩ đến việc thiết lập dân chủ tập trung và chuyên chính vô sản.

Nhân quyền và những quyền tự do cơ bản được đề xướng và khai triển trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1998 nhân dịp kỷ niệm 50 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948).

Phần Mở Đầu Tuyên Ngôn Phụ Đính viết:
“Cần nhắc lại rằng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với nhau, nên phải được đề xướng và thực thi công bằng và đồng đều, sự thực thi quyền này không gây trở ngại cho sự thực hiện quyền kia.
“Nhấn mạnh rằng Quốc Gia có trách nhiệm tiên khởi và có nghĩa vụ phải đề xướng và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản”.
Những quyền này được ghi trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Phụ Đính, cũng như trong Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị, và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa. Căn cứ vào Luật Quốc Tế Nhân Quyền, các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là các quốc gia đã ký kết tham gia Công Ước Dân Sự Chính Trị, chỉ có thể chấp nhận một loại nhân quyền duy nhất áp dụng trên toàn cầu cho tất cả mọi người.

Chiếu Điều 2 Công Ước Dân Sự Chính Trị, các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc tham gia Công Ước đã cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản được thừa nhận cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp những quyền tự do cơ bản ghi trong Công Ước chưa được quy định thành văn trong hiến pháp và luật pháp quốc gia (như quyền tự do tư tưởng), thì các quốc gia kết ước ( như Việt Nam) có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc hay tu chính hiến pháp cho phù hợp với tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành.

Trong trường hợp quốc gia kết ước không quy định những quyền này trong hiến pháp hay luật pháp quốc gia, thì những điều khoản về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong Công Ước Dân Sự Chính Trị (như quyền tự do tư tưởng) vẫn có hiệu lực chấp hành và phải được áp dụng trước các tòa án quốc gia và quốc tế.

Quyền tự do tư tưởng được thừa nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 18) và trong Công Ước Dân Sự Chính Trị (Điều 18). Mặc dầu vậy, Điều 4 Hiến Pháp đã dành cho Đảng CS độc quyền tư tưởng buộc toàn dân phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (nếu quả thật có loại tư tưởng này). Như vậy Điều 4 Hiến Pháp đi trái với Luật Quốc Tế Nhân Quyền, đặc biệt là Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Dân Sự Chính Trị.

Về mặt quốc tế công pháp, các Công Ước Quốc Tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Dân Sự Chính Trị là những hiệp ước quốc tế đã được chính phủ ký kết và quốc hội phê chuẩn, nên có hiệu lực pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.

Năm 1945, 50 Quốc Gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và công bố Hiến Chương Liên Hiệp Quốc nhằm bảo vệ hòa bình cho các quốc gia và đề xướng nhân quyền cho tất cả mọi người.

Chiếu Điều 56 Hiến Chương, các quốc gia hội viên cam kết cộng tác với Liên Hiệp Quốc để thực hiện mục tiêu bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu. Qua Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, nhân quyền không còn là một vấn đề quốc nội mà đã được quốc tế hóa. Do đó các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc không thể chủ trương rằng việc họ thủ tiêu hay đàn áp các công dân của họ chỉ là vấn đề nội bộ.

Chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân. Do đó nhân quyền không phải là quyền của nhà nước, mà là quyền của người dân mà nhà nước có nghĩa vụ phải tôn trọng. Vi phạm nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân, nhà nước có thể bị khiếu nại và phải trả lời trước Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.

Năm 1993, Đại Hội Nhân Quyền Vienna ra Tuyên Cáo nhắc nhở các quốc gia đã ký kết tham gia các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền, như Công Ước Dân Sự Chính Trị, phải tôn trọng chữ ký, lời cam kết và danh dự của mình: “Các quốc gia vi phạm Luật Quốc Tế Nhân Quyền phải chịu trách nhiệm quốc tế về những hành động vi phạm của họ”.

Do đó trên bậc thang giá trị, Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Dân Sự Chính Tr
đứng trên và đứng trước luật pháp và hiến pháp quốc gia. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật pháp quốc gia và Công Ước Quốc Tế thì tòa án phải tham chiếu và áp dụng những điều khoản nhân quyền của Công Ước Quốc Tế.

Tại Việt Nam ngày nay, mâu thuẫn lớn nhất giữa luật pháp quốc gia và Công Ước Quốc Tế phát sinh từ Điều 4 Hiến Pháp.
Khi quy định sự độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, Điều 4 Hiến Pháp đi trái với quyền Dân Tộc Tự Quyết là quyền được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (các Điều 1 và 55), Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Phần Mở Đầu), Công Ước Dân Sự Chính Trị và Công Ước Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa (các Điều1).

Về mặt quốc nội, Dân Tộc Tự Quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ hay chính thể của Quốc Gia (như quân chủ lập hiến, cộng hòa dân chủ, dân chủ xã hội hay xã hội chủ nghĩa), và được quyền tự do tuyển cử để trực tiếp tham gia chính quyền, hay bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Ngoài quyền Dân Tộc Tự Quyết, Điều 4 Hiến Pháp còn đi trái Công Ước Dân Sự Chính Trị nơi Điều 18 (quyền tự do tư tưởng), Điều 19 (tự do phát biểu), các Điều 21, 22 (tự do hội họp, lập hội và lập đảng), Điều 25 (quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền) v…v…

Cũng như Điều 2 Hiến Pháp 1992 hiện hành, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khẳng định rằng chủ quyền quốc gia thuộc về Nhân Dân chứ không thuộc về Nhà Nước: “Ý nguyện của người dân là căn bản của quyền lực nhà nước” (Điều 21).

Hơn nữa, chiếu Điều 5 Công Ước Dân Sự Chính Trị, Tòa Án (Tối Cao Pháp Viện) không được giải thích xuyên tạc luật pháp quốc gia hay công ước quốc tế để cho phép chính phủ hay tòa án làm những hành vi, hay tuyên những bản án, nhằm phủ nhận hay tước đoạt của người dân những quyền tự do cơ bản đã được luật pháp quốc gia và công ước quốc tế thừa nhận. Đặc biệt là quyền đối kháng bạo quyền.

Phần Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mặc nhiên thừa nhận quyền đối kháng bạo quyền: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ dân chủ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải đứng lên đối kháng chống áp bức và bạo quyền”.
Theo Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp (1789): “sự phủ nhận, khinh miệt hay lãng quên nhân quyền là nguyên nhân duy nhất đem lại đại bất hạnh cho người dân và sa đọa cho chính quyền. Mục đích của mọi tập hợp chính trị trong xã hội là để bảo vệ những quyền tự nhiên và bất khả chuyển nhượng của con người, như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng bạo quyền.”

Theo Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (1776): “mọi người sinh ra bình đẳng, đó là một chân lý hiển nhiên. Nhân quyền là những quyền bẩm sinh bất khả chuyển nhượng do Tạo Hóa ban cho con người, như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nếu chính quyền ngoan cố tước đoạt tự do nhân quyền để siết chặt guồng máy thống trị bạo tàn bằng chế độ chuyên chính tuyệt đối, người dân có quyền và có nghĩa vụ đứng lên đối kháng lật đổ chính quyền để giành lại những bảo đảm cho cuộc sống tương lai. Khi chính quyền biểu lộ tính chuyên chế của một bạo quyền, nó không còn xứng đáng lãnh đạo một dân tộc tự do.”

Vì con người không phải là á thánh nên xã hội cần phải có chính quyền. Và vì nhà cầm quyền cũng không phải là á thánh nên luật pháp phải dành cho người dân quyền kiểm soát, đối kháng, chế tài và thay thế chính quyền. Nếu không có tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu, phê bình và chỉ trích thì không thể có dân chủ. Nếu người dân không được tự do lập đảng, tự do bầu cử và ứng cử để tham gia chính quyền và thay thế chính quyền, thì đảng cầm quyền sẽ hủ hóa thành độc tài, tham nhũng, bất công và bất lực. Đó là một quy luật về Chính Thống Dân Chủ.

Vì đi trái Luật Quốc Tế Nhân Quyền,
Điều 4 Hiến Pháp phải bị hủy bỏ.

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP PHẢN LẠI HIẾN PHÁP.

Theo chính sách dân chủ hình thức, Nhà Nước CHXHCNVN đã ghi trong Hiến Pháp hầu hết các nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người dân, như quyền tự do tôn giáo (Điều 70), quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), quyền tham gia chính quyền (Điều 53), quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68), quyền tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền biểu tình (Điều 69), quyền được suy đoán là vô tội (Điều 72), quyền khiếu nại, khiếu kiện các cơ quan chính phủ khi có sự lạm quyền phi pháp (Điều 74) v…v…

Khi quy định sự độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng CS, Điều 4 Hiến Pháp đã phản lại Hiến Pháp vì đi trái với các điều khoản hiến pháp cơ bản như các Điều 2, 3, 6, 8, 11, 50, 52, 53, 54, 68, 69.
Thật vậy:

Theo Điều 2 Hiến Pháp “Nhà Nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, chứ không thuộc về Đảng CS. Điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng quy định như vậy: “Ý nguyện của người dân là căn bản của quyền lực nhà nước”.(The will of the people shall be the basis of the authority of government)

Hiện nay số đảng viên CS chỉ được từ 2% đến 3% dân số Việt Nam. Và khối đông đảo trên 97% nhân dân không được quyền tham gia vào guồng máy lãnh đạo quốc gia. Đó là một điều bất công, phi lý và phi pháp.

Theo Điều 3 Hiến Pháp “Nhà Nước bảo đảm quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, và nghiêm trị mọi hành động xâm phạm những quyền và lợi ích của nhân dân”, (dầu rằng kẻ xâm phạm chính lại là Đảng CS).

Theo Điều 6 Hiến Pháp “nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Do đó Quốc Hội không thể là sản phẩm và công cụ của Đảng CS. Trên thực tế, Đảng CS đã dựng lên các quốc hội tiền chế trong chính sách “Đảng cử dân bầu”. Quốc Hội đã chép Điều 4 Hiến Pháp nguyên văn từ Điều 6 Hiến Pháp Liên Xô để dành độc quyền lãnh đạo cho Đảng CS. Đó không phải là ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
Hơn nữa quốc hội của nhân dân phải sinh hoạt theo nguyên tắc d
ân chủ pháp trị, chứ không theo nguyên tắc “dân chủ tập trung” phản dân chủ.

Theo Điều 8 Hiến Pháp “các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân… [không được] quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”. Đây chỉ là những mỹ từ để du mị nhân dân, nói vậy mà không phải vậy.

Theo Điều 11 Hiến Pháp “công dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà Nước”. Muốn thế phải thiết lập chế độ dân chủ pháp trị để Dân được quyền làm chủ Nhà Nước, và bãi bỏ chế độ độc tài đảng trị, bãi bỏ Điều 4 Hiến Pháp theo đó Đảng độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội.

Theo Điều 50 Hiến Pháp “ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân đã được quy định trong Hiến Pháp và luật”. Vậy mà trên thực tế tất cả 26 nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân đã bị Đảng CS tước đoạt bằng Điều 4 Hiến Pháp, cũng như bằng các đạo luật áp dụng vi hiến của quốc hội và sự giải thích luậït pháp xuyên tạc của tòa án.

Theo Điều 52 Hiến Pháp “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Do đó Nhà Nước không được phân biệt kỳ thị vềø lập trường và chính kiến giữa các đảng đối lập và đảng cầm quyền, cũng như không được coi những người ngoài Đảng là công dân hạng nhì, không có quyền tự do lập đảng, tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền.

Theo Điều 53 Hiến Pháp “công dân có quyền tham gia quản lý Nhà Nước” bằng cách hành sử quyền tự do lập đảng, tự do tuyển cử, quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền và quyền kiến nghị khiếu nại và khiếu kiện là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết. Trong khi đó Điều 4 dành cho Đảng CS quyền độc chiếm bộ máy Nhà Nước.
Theo Điều 54 Hiến Pháp “công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc Hội”. Do đó Đảng CS không được tước đoạt quyền tự do tuyển cử của công dân do chính sách “Đảng cử dân bầu”.

Theo Điều 68 Hiến Pháp “công dân có quyền tự do đi lại và tự do cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”. Quyền này được mệnh danh là Quyền An Cư dự liệu nơi Điều 12 Công Ước Dân Sự Chính Trị. Tháng 8-1997, Ủy ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc công bố Nghị Quyết tố cáo Bắc Triều Tiên vi phạm quyền tự do cư trú và đi lại, quyền tự do xuất ngoại và hồi hương của người dân. Phẫn chí, Bình Nhưỡng rút ra khỏi Công Ước Dân Sự Chính Trị, đồng thời rút ra khỏi cộng đồng nhân loại văn minh. Tại Việt Nam, chính sách quản thúc tại gia đã vi phạm thô bạo Quyền An Cư của người dân.

Theo Điều 69 Hiến Pháp, “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền biểu tình, tự do hội họp và lập hội”, lập hội dân sự như công đoàn độc lập và hội chính trị như các chính đảng đối lập.

Vì Nhà Nước thuộc về nhân dân, nên chỉ nhân dân mới có tư cách và thẩm quyền lãnh đạo và quản lý Nhà Nước, Đảng CS không thể tự ban cho mình quyền này bằng cách vận dụng các thủ thuật trí trá để bầu lên một quốc hội tiền chế, rồi ra chỉ thị cho cơ quan này ghi Điều 4 vào Hiến Pháp.
Tựu chung, khi dành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước cho Đảng CS, Điều 4 đã tước đoạt của nhân dân tất cả 26 Nhân Quyền và những quyền tự do cơ bản, như tự do thân thể, tự do tinh thần, tự do chính trị kể cả những quyền dân sự, kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục.

Vì những lý do nêu trên, Điều 4 phải bị hủy bỏ. Nó vi phạm thô bạo Luật Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, đồng thời vi phạm thô bạo Hiến Pháp nơi các Điều 2, 3, 6, 8, 11, 50, 52, 53, 54, 68 và 69.

Chiếu nguyên tắc Chính Thống Pháp Lý áp dụng trong công tác thảo hiến, các nhà lập hiến thường quy định trong Chương I những cương lĩnh hiến pháp cơ bản được coi là chủ yếu và có tầm quan trọng theo thứ tự ưu tiên.

Điều 1 Hiến Pháp

Quan trọng nhất là Điều 1 Hiến Pháp nói về Nước.
Điều 1 Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 viết: “Việt Nam là một Nước Cộng Hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân. Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân”.

Điều 1 Hiến Pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 1946 viết: “Nước Việt Nam là một nước Dân Chủ Cộng Hòa, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”.
Điều 1 Hiến Pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992 xác nhận: “Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ”

Như vậy đối tượng của Điều 1 Hiến Pháp là xác định chính thể hay chế độ chính trị của Nước, và quyền của Dân được làm chủ quốc gia, làm chủ nhà nước chiếu Nguyên Tắc Dân Tộc Tự Quyết.

Sửa Đổi Điều I Hiến Pháp

Chiếu Điều 107 Hiến Pháp VNCH 1967: “không thể hủy bỏ hoặc tu chính Điều 1 và điều này của Hiến Pháp”.
Chiếu Điều 70 Hiến Pháp VNDCCH 1946: “sự sửa đổi Hiến Pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do 2/3 tổng số nghị viên (đại biểu) yêu cầu.
b) Nghị Viện (Quốc Hội) bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi
c) Những điều thay đổi đã được Nghị Viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” [trong một cuộc Trưng Cầu Dân Ý].

Điều đáng lưu ý là, với Điều 1 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 hiện hành, Quốc Hội đã sửa đổi chính thể hay chế độ của Nước Việt Nam, từ Dân Chủ Cộng Hòa (theo Hiến Pháp 1946) thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Sự thay đổi này không được quốc dân phê chuẩn bằng một phúc quyết trong một cuộc Trưng Cầu Dân Y

Chiếu Điều 70 Hiến Pháp VNDCCH 1946, sự sửa đổi Điều 1 Hiến Pháp 1946 hiển nhiên vi hiến. Vì nó vi phạm hình thức hay thủ tục sửa đổi Hiến Pháp. Theo một nguyên tắc về Chính Thống Pháp Lý “Hình Thức hay Thủ Tục là chị em song sinh của Tự Do” (The Form or Procedure is a twin-sister of the Liberty) Do đó nó không có giá trị và hiệu lực pháp lý.

Cũng nên nhắc lại rằng Hiến Pháp VNCH 1967 không cho phép sửa đổi Điều 1 Hiến Pháp nói về chính thể hay chế độ Cộng Hòa của Việt Nam.

Nếu Điều 1 Hiến Pháp 1992 hiện hành đã vi phạm Điều 70 Hiến Pháp 1946 nguyên thủy, thì cái đuôi của nó l
à Điều 4 cũng vô giá trị và vô hiệu lực.

Sửa Đổi Toàn Bộ hay Hủy Bỏ Hiến Pháp 1946

Ngoài ra, Điều 70 Hiến Pháp VNDCCH 1946 chỉ cho phép các Quốc Hội Lập Pháp kế tiếp tu chính từng điều khoản hiến pháp mà không được sửa đổi toàn bộ hay hủy bỏ Hiến Pháp. Các nhà lập hiến quan niệm rằng chế độ Cộng Hòa Dân Chủ phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi của Nhân Dân. Do đó các Quốc Hội kế tiếp không được quyền sửa đổi toàn thể 70 Điều trong Hiến Pháp, nghĩa là không được hủy bỏ toàn bộ Hiến Pháp 1946 nếu không có sự phê chuẩn hay phúc quyết của Nhân Dân.

Trên thực tế, từ nửa thế kỷ nay, thủ tục sửa đổi hiến pháp quy định bởi Quốc Hội Lập Hiến 1946 đã không được các quốc hội lập pháp kế tiếp tuân hành. Do đó muốn “sống theo pháp luật”, quốc dân có quyền khẳng định rằng, những Hiến Pháp kế tiếp, từ Hiến Pháp 1959 đến Hiến Pháp 1980 và Hiến Pháp 1992 hiện hành, tất cả đều vô giá trị và vô hiệu lực. Vì Hiến Pháp 1946 không dự liệu sự hủy bỏ hay sửa đổi toàn bộ Hiến Pháp, và đặc biệt là không có sự duyệt y hay phúc quyết của Quốc Dân truyền hủy bỏ Hiến Pháp 1946 trong một cuộc Trưng Cầu Dân Ý.

Muốn thượng tôn luật pháp, Nhà Nước đương quyền phải tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để xem quốc dân có phúc quyết phê chuẩn việc hủy bỏ toàn bộ Hiến Pháp 1946 hay không? Nếu Quốc Dân nói “không” thì Hiến Pháp 1946 phải được phục sinh. Từ 220 năm nay, Hiến Pháp Hoa Kỳ 1787 chỉ được tu chính, chứ không bị hủy bỏ.

Đó là nói về tầm quan trọng của Điều 1 Hiến Pháp.
Điều 2 Hiến Pháp

Điều 2 Hiến Pháp VNCH 1967 công nhận và bảo đảm những quyền tự do căn bản của người dân trong tinh thần bình đẳng và tương trợ, đồng thời nêu ra những nghĩa vụ của người dân trong việc phục vụ quốc gia. Những quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được khai triển trong Chương II gồm 24 điều (từ Điều 6 đến Điều 29).

Điều 2 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 cũng công nhận dân là chủ nhà nước, được nắm giữ mọi quyền lực nhà nước. Và nhà nước là “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” (ngôn từ của Tổng Thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln là người đã thực thi chính sách giải phóng nô lệ hồi giữa Thế Kỷ 19).

Như vậy đối tượng của Điều 2 Hiến Pháp là đề xướng một quy luật về Chính Thống Dân Chủ theo đó Chủ Quyền Quốc Gia hay quyền lực Nhà Nước thuộc về Nhân Dân. Quy luật này được xác nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc: “Ý nguyện của nhân dân phải được coi là căn bản của quyền lực nhà nước” (Điều 21).

Điều 3 Hiến Pháp

Điều 3 Hiến Pháp VNCH 1967 quy định chế độ Tam Quyền Phân Lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, để phân công phân quyền, hợp tác đồng thời giám sát lẫn nhau. Sự phân quyền hiến chế nhằm điều hòa phối hợp để thực thi chính sách quốc gia chống độc tài, tham nhũng, bất công, phạm pháp và lạm quyền, đem lại thịnh vượng chung, xây dựng Tự Do Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội. Ba quyền hiến chế nói trên tạo nên thế quân bình chân vạc của Nhà Nước Dân Chủ Pháp Trị.

Điều 3 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 cũng quy định nghĩa vụ của Nhà Nước trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân nhằm xây dựng một nước giàu mạnh ấm no, tự do hạnh phúc, với kinh tế phát triển và công bằng xã hội.

Như vậy, khi nói về nhiệm vụ của Nhà Nước, các Điều 2 và 3 của các Hiến Pháp nói trên xác nhận quyền làm chủ nhà nước của Nhân Dân. Tổng kết lại, 3 điều đầu tiên của Hiến Pháp VNCH 1967 và Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 là 3 điều khoản hiến chế cơ bản hay 3 Cương Lĩnh Hiến Pháp để nói về:
1). Nước hay Quốc Gia. (State)
2). Dân hay Nhân Dân (People)
3). Nhà Nước hay Chính Quyền (Government)
theo tầm quan trọng và thứ tự ưu tiên.

– Điều 1 nói về Nước hay Quốc Gia là cương lĩnh hiến pháp quan trọng số 1 quy định chính thể hay chế độ. Hiến Pháp VNCH 1967 không cho phép sửa đổi hay hủy bỏ Điều 1.
– Điều 1 Khoản 2 Hiến Pháp VNCH 1967 xác nhận “Chủ quyền Quốc Gia thuộc về toàn dân”.
Bổ túc vào đó là Điều 2 và Điều 3 xác nhận Dân có những quyền tự do cơ bản được Quốc Gia công nhận. Và Quốc Gia được tổ chức theo chế độ Dân Chủ Pháp Trị để bảo đảm Tự Do Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội cho người dân.
- Các Điều 2 và 3 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 hiện hành cũng xác định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân Dân”, và “nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân Dân”.

Như vậy, sau Nước hay Quốc Gia (Điều 1), Dân hay Nhân Dân (các Điều 2 và 3) giữ vai trò trọng yếu thứ 2, đứng trên Nhà Nước hay Chính Quyền.

Đó cũng là Học Thuyết Dân Quyền của Mạnh Tử : “Lấy Dân làm trọng, Nhà Nước là thứ yếu và coi nhẹ Chính Quyền” : Dân Vi Quý, Xã Tắc Thứ Chi, Quân Vi Khinh. Vì có Dân mới có Nước, có Nước mới có Vua (quân quyền hay chính quyền). Do đó Dân quý nhất đứng trên cả Nhà Nước hay Chính Quyền và các Chính Đảng.

Điều 4 Hiến Pháp

Điều 4 Hiến Pháp 1992 hiện hành nói về Đảng là một tổ chức quần chúng sinh hoạt trong xã hội xuất phát từ Nhân Dân, nên không thể xếp hạng cao hơn Dân.

Tựu chung, trong Hiến Pháp 1992, các Điều 2 và 3 nói về Dân có tầm quan trọng hơn Điều 4 nói về Đảng. Vậy mà Điều 4 đã vượt quyền, mâu thuẫn và đi trái với các Điều 2 và 3 khi dành cho Đảng CS độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội.

Như đã trình bày, hiện nay số đảng viên CS chỉ được từ 2% đến 3% dân số Việt Nam. Và khối đông đảo trên 97% nhân dân không được quyền tham gia vào guồng máy lãnh đạo quốc gia. Đó là một điều bất công, phi lý và phi pháp.
Như vậy về pháp lý, chính trị và xã hội, Dân phải được xếp hạng ưu tiên cao hơn Đảng. Và quyền lực Nhà Nước phải thuộc về Dân chứ không thể thuộc về Đảng. Điều 4 Hiến Pháp phải bị hủy bỏ vì đi trái Chính Thống Pháp Lý về hệ thống quyền lực quốc gia, cũng như đi trái Chính Thống Dân Chủ lấy Dân làm trọng, Nhà Nước, Chính Quyền và Chính Đảng là thứ yếu.
Ngoài việc vi phạm các Điều 2 và 3 Hiến Pháp, Điều 4 còn đi trái với tinh thần và bản văn của Điều 6, Điều 8, và Điều 11 Hiến Pháp. Những điều này được soạn thảo để khai triển quyền của Nhân Dân được làm chủ
Nhà Nước, làm chủ xã hội trong đó có các hội đoàn dân sự như công đoàn và các hội đoàn chính trị như chính đảng. Nếu Dân đã làm chủ Nhà Nước và xã hội thì Đảng không thể độc đoán tước đoạt quyền làm chủ nhà nước vốn thuộc về quyền lực của Dân. Tước đoạt quyền này là phản Dân. Mà phản Dân là hại Nước.
Điều 4 Hiến Pháp phải bị hủy bỏ vì những lý do pháp lý và chính trị nêu trên. Ngoài ra nó còn đi trái Nhân Tâm, Văn Hóa và Đạo Lý.

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP CÒN ĐI TRÁI LÒNG DÂN

Điều 4 đã đem đến cho quốc dân những chế độ phản dân tộc, phản nhân loại theo Chủ Nghĩa Xã Hội Mác-Lênin, như chuyên chính vô sản, chuyên chính tư tưởng, độc quyền ý thức hệ và độc quyền lãnh đạo nhà nước của một chính đảng một mình một chợ là Đảng CS.

Đó là nhận định chung của đồng bào các giới trong và ngoài nước. Trong cuốn Nhật Ký Rồng Rắn, Tướng Trần Độ đã trình bày những nhận xét và suy tư của một người sốùng trong lòng chế độ, có lòng với đất nước, đã từng gia nhập Quân Đội Nhân Dân từ thời niên thiếu, và đã giữ những chức vụ quan trọng trong Đảng Cộng Sản như Phó Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, Phó Chủ Tịch Quốc Hội, Trưởng Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương. Cuốn sách này được coi là một tập di chúc chính trị để nhận định tình hình suy thoái hiện nay, đồng thời đưa ra những chủ trương dân chủ hóa đất nước và phát triển kinh tế xã hội.

Về mặt chính trị và luật pháp, Tướng Trần Độ có những nhận xét như sau:

Trong thế giới hiện nay có hơn 100 nước đã phát triển và đạt tới trình độ văn minh cao. Vậy mà họ không cần đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội với vô sản chuyên chính, độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.

Bây giờ chỉ còn lại 4 nước nói là theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Tuy nhiên Trung Quốc đã mặc nhiên giã từ chủ nghĩa Mác-Lênin và theo chủ nghĩa thực dụng “có màu sắc Trung Quốc” [được chứng nghiệm từ thời Đặng Tiểu Bình: “Mèo đen, mèo trắng, mèo nào cũng tốt, miễn là bắt được chuột”].
Bắc Triều Tiên cũng buộc phải mở cửa và hòa hợp với Nam Triều Tiên để thoát khỏi cảnh nghèo đói, lạc hậu.
Có người nói Cách Mạng XHCN ở Nga thành công năm 1917 là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20. Vậy thì sự sụp đổ của cái quan trọng ấy lại là “siêu quan trọng”.

Ba mục tiêu chiến lược rút ra từ Chủ Nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên là dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc. Từ Cách Mạng Tháng 8 đến nay đã hơn 60 năm mà các mục tiêu Tự Do Hạnh Phúc vẫn chưa đạt được. Trong khi đó, tại một số quốc gia Đông Nam Á như Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan, Mã Lai hay Tân Gia Ba, mặc dầu không theo xã hội chủ nghĩa và cũng không có đảng cộng sản lãnh đạo, các nước này trước kia cũng nghèo khổ, vậy mà chỉ khoảng 20, 30 năm, họ đã trở thành những nước phát triển về kinh tế.

Trong khi đó, tại Việt Nam, hàng chục ngàn gia đình dân oan tại nông thôn đã vùng lên đòi Quyền Sống, vì bị Đảng CS tước đoạt ruộng đất nói là để phát triển công kỹ nghệ. Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn gia đình của các chiến binh trong Quân Đội Nhân Dân cũng như các cựu chiến binh sinh sống về ngư nghiệp tại miền duyên hải cách mạng Thanh Nghệ Tĩnh Bình đã bị Đảng CS phản bội bằng cách bán nước Biển Đông cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc nhằm duy trì cái ghế chính quyền lung lay của họ.

ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT

Về mục tiêu giải phóng dân tộc để giành lại độc lập và thống nhất cho quốc gia, tác giả cuốn Nhật Ký Rồng Rắn nhận định rằng nhiều quốc gia đã giành được chủ quyền độc lập mà không cần đến chiến tranh bạo động võ trang.

Về điểm này chúng ta cần Phục Hồi Sự Thật Lịch Sử để minh chứng rằng, cũng như tại 13 nước Á Châu khác, các nhà Cách Mạng Quốc Gia Việt Nam theo Chủ Nghĩa Dân Tộc, bằng đường lối đấu tranh bất bạo động với hợp tác và thương nghị, đã thành công trong việc thu hồi chủ quyền độc lập và thống nhất quốc gia 4 năm sau Thế Chiến II.

Sau Thế Chiến I, năm 1919, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xướng quyền Dân Tộc Tự Quyết tại Hội Quốc Liên – tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc – để khuyến cáo các Đế Quốc Tây Phương từng bước trả tự trị và độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Thuận theo khuyến cáo này, năm 1919 Anh Quốc trả độc lập cho Canada tại Bắc Mỹ và A Phú Hãn tại Nam Á.

Năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, các Quốc Gia Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp họp Hội Nghị New Foundland (Canada) để ký Hiến Chương Đại Tây Dương và cam kết sẽ trả độc lập cho các thuộc địa khi chiến tranh kết thúc.
Qua năm sau, tại Hoa Kỳ, các Đồng Minh Tây Phương công bố Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc để xác nhận lại lời cam kết sẽ thực thi quyền Dân Tộc Tự Quyết của các nước bảo hộ, giám hộ và thuộc địa tại Á Phi.

Mùa Xuân 1945, khi Chiến Tranh Thái Bình Dương đến hồi kết cuộc, 50 Quốc Gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và ban hành Hiến Chương Liên Hiệp Quốc nhằm bảo vệ hòa bình cho các quốc gia, đồng thời đề xướng tự do nhân quyền cho tất cả mọi người, đặc biệt là Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

Trung thành với những điều cam kết minh thị và trang trọng trong Hiến Chương Đại Tây Dương (1941), Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc (1942) và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), qua năm sau, và chỉ trong vòng 3 năm, từ 1946 đến 1949, tất cả các Đế Quốc Tây Phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu:

1. Độc lập năm 1946: Syria và Lebanon (thuộc Pháp); và Phi Luật Tân (thuộc Hoa Kỳ).
2. Độc lập năm 1947: Ấn Độ và Đại Hồi (thuộc Anh).
3. Độc lập năm 1948: Miến Điện, Tích Lan và Palestine (thuộc Anh).
4. Độc lập năm 1949: Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao (thuộc Pháp); và Nam Dương (thuộc Hà Lan).
(Hai nước trong Liên Bang Mã Lai Á là Mã Lai và Tân Gia Ba chỉ được trao trả tự trị năm 1952 và độc lập năm 1957, sau khi Quân Đội Hoàng Gia Anh dẹp tan phe phiến loạn Cộng Sản theo Mao Trạch Đông đã lập chiến khu và chiến đấu võ trang từ 1948).

Bằng đường lối đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp, không bạo động và không vọng ngoại (nhất là không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản), các nhà Cách Mạng Quốc
Gia theo Chủ Nghĩa Dân Tộc tại Á Châu đã giành được chủ quyền độc lập cho quốc gia từ 1 đến 4 năm sau Thế Chiến II. Với chính sách hợp tác và thương nghị, các chính đảng quốc gia tại 14 nước Á Châu đã hoàn thành Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc mà không hao tổn máu xương. Đó là sách lược vận dụng thời cơ theo trào lưu tiến hóa của lịch sử. Điển hình là cuộc Giải Phóng Ấn Độ.

Tháng 5-1945, Đức Quốc Xã đầu hàng Đồng Minh. Tháng 7-1945, Anh Quốc tổ chức tổng tuyển cử. Thủ Tướng Winston Churchill, người anh hùng dân tộc, chủ trương duy trì thuộc địa để lấy lại vinh quang cho đất nước.

Tới Thế Chiến II, Anh Quốc đã thiết lập một đế quốc lớn nhất từ cổ chí kim, với lãnh thổ chạy dài khắp năm châu, và người dân Anh thường tự hào nói: “mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc Anh”. Vậy mà chỉ hai tháng sau khi chiến thắng Hitler, người anh hùng dân tộc Winston Churchill đã thất cử. Sau chiến tranh, kinh tế nước Anh kiệt quệ, dân chúng đói khổ, và hàng triệu cựu chiến binh không có công ăn việc làm. Trong điều kiện kinh tế xã hội suy sụp đó, Đảng Lao Động Anh đưa ra chương trình tuyển cử nhằm phát triển kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa. Từ đầu Thế Kỷ 20, Đảng Xã Hội Pháp và Đảng Lao Động Anh trong Tổ Chức Quốc Tế Xã Hội (Socialist International) đã đề xướng chính sách giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.

Trong cuộc Tổng Tuyển Cử tháng 7-1945, 2/3 cử tri Anh chấp thuận chương trình của Đảng Lao Động. Ngoài ra, để tôn trọng lời cam kết của Anh Quốc trong Hiến Chương Đại Tây Dương, Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, hai năm sau khi đắc cử, tân thủ Tướng Lao Động Clement Attlee đã trả độc lập cho Ấn Độ và Đại Hồi năm 1947, và cho Miến Điện, Tích Lan và Palestine năm 1948.

Tại Pháp cũng vậy. Sau Thế Chiến II, Tướng De Gaulle, người anh hùng giải phóng dân tộc, cũng chủ trương duy trì thuộc địa để đem lại vinh quang cho đất nước. Vậy mà chương trình phục quốc của ông đã bị 2/3 cử tri Pháp bác bỏ trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý vào cuối năm 1945. Và từ đầu năm 1946, sau khi Thủ Tướng De Gaulle từ chức, Đảng Xã Hội Pháp với Leon Blum, Marius Moutet và Vincent Auriol đã đi tiền phong trong kế hoạch giải phóng thuộc địa để trao trả độc lập cho Syria và Lebanon từ 1946.

Cũng trong năm này, Lãnh Tụ Xã Hội Marius Moutet, Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại đã ký với Hồ Chí Minh Thỏa Ước Tạm Thời ngày 4-9-1946 để xúc tiến chương trình giải thể đế quốc bằng đường lối thương nghị ngoại giao. Trước đó, ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh đã ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny theo đó Pháp nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp.

Tuy nhiên, để trung thành với đường lối của Quốc Tế Cộng Sản, Hồ Chí Minh đơn phương hủy bãi 2 Hiệp Ước Việt-Pháp để theo giải pháp chiến tranh. Đối với người cộng sản, ký hiệp ước hòa bình không phải để thi hành hiệp ước, mà chỉ nhằm đạt được những mục tiêu chính trị giai đoạn. Ở đây mục tiêu chính trị là sự thừa nhận trên thực tế Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do 2 Hiệp Ước Việt Pháp nói trên. Cũng vì vậy, 3 tháng sau, ngày 19-12-1946, với sự yểm trợ của Quốc Tế Cộng Sản, Hồ Chí Minh phát động chiến tranh võ trang trong suốt 8 năm (từ 1946 đến 1954).

Trong thời gian này tại Âu Châu, sau khi thôn tính và sát nhập 3 nước Baltic là Lithuania, Estonia và Latvia vào Liên Bang Sô Viết, Stalin thiết lập Bức Màn Sắt gồm 7 nước Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, An Ba Ni và Ru Ma Ni. Từ đó Chiến Tranh Lạnh hay Chiến tranh Ý Thức Hệ bộc phát giữa Quốc Tế Cộng Sản và Thế Giới Dân Chủ.

Các nhà lãnh đạo phe Thế Giới Dân Chủ tại Mỹ, Anh, Pháp, nhất quyết không trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương, vì họ không muốn Stalin mở rộng Bức Màn Sắt từ Đông Âu qua Đông Á. Tại Việt Nam, Pháp cũng không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh vì ông này là cán bộ Quốc Tế Cộng Sản phụ trách miền Đông Nam Á.

Và kể từ 1947, sau khi Hồ Chí Minh phát động chiến tranh võ trang vi phạm các Hiệp Ước Việt Pháp, các Chính Phủ Pháp do Tổng Thống Xã Hội Vincent Auriol lãnh đạo quyết định sẽ không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa. Theo lời Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet “từ nay Pháp sẽ không thương nghị với những chính phủ đã ký hiệp ước mà không thi hành hiệp ước”.

Và trong vòng hai năm, từ 1947 đến 1949, để giải quyết vấn đề Việt Nam, Pháp đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại 3 Hiệp Ước để trả lại chủ quyền độc lập cho Quốc Gia Việt Nam: Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long ngày 7-12-1947, Tuyên Cáo Chung Vịnh Hạ Long ngày 5-6-1948 và Hiệp Định Elysee ngày 8-3-1949 ký kết tại Paris giữa Tổng Thống Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại.

Đây là một hiệp ước quốc tế đặc biệt có một không hai trong lịch sử ngoại giao. Vì Hiệp Định Elysée được chính Tổng Thống Pháp ký, với sự chứng kiến và tham dự của Thủ Tướng, Bộ Trưởng Ngoại Giao, Bộ Trưởng Quốc Phòng và Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại. Nhân danh Cộng Hòa Pháp, Tổng Thống Vincent Auriol long trọng trao trả chủ quyền độc lập cho Quốc Gia Việt Nam trước quốc dân Việt Nam, trước quốc dân Pháp và trước cộng đồng thế giới.
Cũng nên ghi nhận rằng, trong năm 1947, sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long, Chính Phủ Pháp đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (Xin coi Everyone’s United Nations, ấn bản năm 1986, trang 332). Tưy nhiên Liên Xô đã dùng quyền phủ quyết để bãi bỏ sự đăng ký này.

Về vấn đề thống nhất đất nước, chiếu Nguyên Tắc Dân Tộc Tự Quyết, ngày 23-4-1949, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Ngày 3-6-1949, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Elysee về khoản trao trả Nam Kỳ cho Quốc Gia Việt Nam. Và ngày 2-2-1950, Quốc Hội Pháp phê chuẩn toàn bộ Hiệp Định Élysée, chấm dứt chế độ thuộc địa và bảo hộ tại Việt Nam.
Mặc dầu vậy Đảng Cộng Sản đã phủ nhận nền độc lập này và phá hoại nền thống nhất này. Họ tiếp tục chiến đấu võ trang trong suốt 20 năm, để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm 1954 và cướp chính quyền tại Miền Nam năm 1975. Đây không phải là chiến tranh giải phóng dân tộc mà là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Tế Cộng Sản và Thế Giới Dân Chủ. Kinh nghi
m dân gian cho biết nơi nào trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết. Hơn 3 triệu thanh niên nam nữ Việt Nam đã hy sinh thân sống, không phải để giành độc lập cho quốc gia, mà để cho Đảng Cộng Sản có cơ hội cướp chính quyền.
Căn cứ vào những tài liệu lịch sử khách quan và vô tư, trên bình diện luật học và chính trị học, chúng ta phải kết luận rằng Đảng Cộng Sản không có công giành độc lập và không có công thống nhất đất nước. (Xin coi cuốn Restoring The Historic Truth của người viết)
Vả lại, lịch sử còn cho biết, ngay cả những nhà lãnh đạo có công với đất nước như Winston Churchill và De Gaulle cũng đã rút khỏi chính quyền mấy tháng sau khi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản hãy đọc lại Lịch Sử để noi gương hai vị anh hùng dân tộc Anh và Pháp. Điều đáng lưu ý là, sau một thời gian hưu dưỡng, Tướng De Gaulle lại được quốc dân Pháp tín nhiệm trong chức vụ Tổng Thống. Và Đảng Bảo Thủ của Winston Churchill đã nhiều cơ hội trở lại chấp chính với các nhà lãnh đạo tài cao đức trọng như nữ Thủ Tướng Margaret Thatcher].

TỰ DO DÂN CHỦ

Theo Tướng Trần Độ, trong chiến tranh và cách mạng, muốn phối hợp đấu tranh phải tập trung quyền lực, chịu đựng gian khổ và đặt mình dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, chấp nhận mọi hy sinh để chiến thắng.
Nhưng khi hòa bình vãn hồi, mục tiêu ưu tiên là xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, thực thi tự do nhân quyền và mưu cầu hạnh phúc cho người dân. Do đó không thể quản lý xã hội như một trại lính. Trong thời bình nếu cứ tiếp tục theo lề lối cũ, thì đó là phản tiến bộ, phản động, phản dân chủ và phản nhân dân.

[Về việc thực thi nhân quyền, năm 1942, trước diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ, Tổng Thống Franklin Roosevelt đề ra 4 quyền tự do cơ bản là:
1) Tự do ngôn luận;
2) Tự do tín ngưỡng;
3) Quyền được giải thoát khỏi sự túng thiếu; và
4) Quyền được giải thoát khỏi sự sợ hãi, sợ hãi do xâm lược bên
ngoài (ngoại xâm) và chuyên chế bên trong (nội xâm).
Dưới chế độ độc tài toàn trị, không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, người dân nông thôn và duyên hải chưa được giải thoát khỏi sự nghèo túng, và toàn dân vẫn chưa được giải thoát khỏi sự sợ hãi].
Ngày nay, toàn dân đều sợ công an, sợ cán bộ Đảng, vì cán bộ Đảng cũng như công an, hay dò la, xem xét và dọa nạt dân chúng. Công an ngày càng nhiều và ngày càng có nhiều nét của một hình ảnh khủng bố.

Bộ máy quản lý xã hội thực hiện nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là sự chuyên chính tư tưởng được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là những “lưu manh tư tưởng”. Chuyên chính tư tưởng ban hành những đạo luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói [và bắt giam độc đoán những chiến sĩ dân chủ bằng cách bịa đặt những tội trạng giả tạo như tuyên truyền chống chế độ, tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết v...v...]

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, khiến con người trở thành những con vẹt chỉ biết nhai lại các nguyên lý lỗi thời, bảo thủ, giáo điều. Về mặt văn hóa, nó làm cho giáo dục khô cứng, các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng. Các hoạt động khoa học cũng bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc vào nhà nước, lệ thuộc vào Đảng, lệ thuộc vào cán bộ.

Và nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê gớm của Tần Thủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với những tội ác của các chế độ phát-xít va độc tài. Nó tàn phá cả một dân tộc và làm hại cả một nòi giống. Tội nặng nhất là vi phạm nhân quyền.

Theo các khẩu hiệu tuyên truyền, các cán bộ cộng sản thường nói họ có một chế độ XHCN và một xã hội XHCN rất tốt đẹp cho một nhà nước có tên là CHXHCNVN do Đảng CS lãnh đạo. Bản chất của chế độ XHCN là đem lại tự do dân chủ và công bằng hạnh phúc cho nhân dân. Vậy mà ngày nay, từ bậc cách mạng lão thành đến các nhà trí thức và các thanh niên, ai cũng thấy là không phải thế. Đối chiếu với sự thật thường ngày họ thấy chữ XHCN thật vô duyên và vô nghĩa. Vì vậy có rất nhiều ý kiến muốn lấy lại tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Trong chế độ độc tài độc đảng, Đảng CS công khai tuyên bố là Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Họ đã quét sạch tất cả các đảng phái quốc gia khác như Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội [cũng như Đại Việt, Duy Dân, Lập Hiến, Tân Tả Phái v...v...]. Hai Đảng Dân Chủ và Đảng Xã Hội trong Mặt Trận Tổ Quốc đã phải tự giải thể sau khi hoàn thành sứ mạng trong cuộc Giải Phóng Miền Nam. Trong chế độ độc tài độc đảng này không thể có dân chủ. Nó có tính phản dân chủ và có liên hệ xa gần với chế độ phát-xít. Vì vậy khẩu hiệu tuyên truyền chiến lược từ thời Tổng Khởi Nghĩa 1945 là xây dựng một chế độ chính trị tốt đẹp, “dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản tây phương” chỉ là những lời nói láo và đã bị thực tế chửi lại.

Loại tuyên truyền dối trá, giả nhân giả nghĩa này đã ảnh hưởng tai hại đến đời sống tinh thần, văn hóa và đạo lý của dân tộc.
Ngày nay ai cũng biết Đảng CS nói một đàng, làm một nẻo.
Nói thì dân chủ vì dân, mà làm thì chuyên chính phát-xít, nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, trò hề, “nói vậy mà không phải vậy”.
Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò từ trẻ con đến người già. Nó tạo nên một xã hội dối lừa, lãnh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục dối lừa, bằng cấp giả dối, đến gia đình cũng lừa dối, hứa hẹn lừa dối, tung hô lừa dối và lễ hội cũng dối lừa.
Cũng vì sự chuyên chế và tuyên truyền xảo trá, Đảng CS ngày nay là một tầng lớp thống trị, một tập đoàn chuyên nghề bóc lột, hành hạ, sai khiến nhân dân và lừa bịp nhân dân trong khi vẫn nhân danh là đầy tớ của nhân dân.
Bên cạnh đó phát sinh một hệ thống an ninh với Bộ Công An đầy quyền lực và thủ đoạn học được từ các chế độ phong kiến, phát xít và độc tài cộng sản. Tất cả nhằm bảo vệ quyền lực của Đản
g CS. Chế độ này đang lung lay, nhưng cố che lấp sự kém cỏi bất lực c

September 17, 2007

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cảm tạ chư vị ân nhân gửi tiền ủng hộ Qũy Cứu tế Dân oan

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 5:28 pm

********************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
********************************************************************************

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 17.9.2007
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cảm tạ chư vị ân nhân gửi tiền ủng hộ Qũy Cứu tế Dân oan

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến Thư cảm tạ quý vị ân nhân đã gửi tiền ủng hộ Qũy Cứu tế Dân Oan. Sau đây là toàn văn thư ấy :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ÐẠO
Thanh Minh Thiền viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

Phật lịch 2551 Số : 08/VHÐ/VT

THƯ CẢM TẠ
CHƯ LIỆT VỊ GỬI TIỀN ỦNG HỘ QŨY CỨU TẾ DÂN OAN
Kính gửi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử và Đồng bào các giới
trong và ngoài nước

Kính thưa quí liệt vị,

Tôi vui mừng được biết quí liệt vị đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi ủng hộ Qũy Cứu tế Dân Oan của Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nên thời gian qua quí liệt vị ở khắp năm châu đã góp sức quyên góp hỗ trợ mong chia sẻ nỗi thống khổ, thiếu thốn của tập thể Dân oan đi khiếu kiện trong nước.

Tôi xin thay mặt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ngỏ lời trân trọng cảm ơn. Đa số Dân oan là nông dân, họ bị tham quan ô lại nơi làng xã cướp mất ruộng vườn, nhà cửa, tài sản, và bị xâm phạm nhân phẩm từ hơn hai mươi năm qua. Dân oan đi khiếu kiện là phản ứng của người nông dân trước các bất công xã hội. Nhưng tiếc thay không được Nhà cầm quyền xử lý công minh. Khiến cho sự bất công ngày càng chồng chất, biến thành cuộc bùng nổ xã hội làm thương tâm mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước.

Phản ứng của kẻ tu hành như chúng tôi là ra tay cứu trợ, mong bù đắp phần nào sự thiếu thốn hằng ngày của biết bao vạn gia đình người đi khiếu kiện. Đồng bào ta nghìn đời vốn biết “vô phúc đáo tụng đình”, nhưng đồng thời người dân Việt Nam giữ sẵn trong tâm giải pháp cứu kẻ oan ức trên bước đường cùng, bằng bức cẩm nang mười bốn chữ ca dao :

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Đất nước ngửa nghiêng, ly loạn hơn sáu mươi năm, lòng dân ly tán.

Mừng thay hôm nay được chúng kiến tinh thần “nhiễu điều phủ lấy giá gương” vẫn còn nguyên vẹn trong lòng người Việt hải ngoại, dù không gian xa cách nghìn trùng và thời gian ly biệt đã 32 năm tròn, và vẫn thể hiện nơi tấm lòng tương trợ, qua những lần quyên góp, hội họp lo toan hay những đêm thắp nến nguyện cầu.

Cho đến nay, cụ thể chúng tôi đã tổ chức được ba đợt cứu trợ Dân oan đi khiếu kiện : hôm 13.7 và 17.7 tại Saigon, và hôm 23.8 tại Hà Nội. Tuy bị Nhà cầm quyền cấm đoán và đe dọa sau đợt cứu trợ lần thứ ba, nhưng bằng cách này hay cách khác, chúng tôi đang tìm phương thức hữu hiệu để tiếp tục công cuộc cứu trợ cho tập thể Dân oan.

Thưa quí liệt vị,

Người Tăng sĩ Phật giáo sống trên đời cốt viên thành hai sự nghiệp : “Trên cầu trí giác, dưới cứu chúng sinh”. Tuy hai nhưng vẫn là một ý chí không tách lìa, như hai bánh xe đưa cỗ xe cứu độ rong ruỗi cõi trần gian. Vì vậy người theo Phật quan niệm “Cứu chúng sinh tức cúng dường chư Phật”.

Nên chúng tôi mong mỏi rằng, dù chúng ta có khác nhau vì chính kiến, vì tôn giáo, vì địa phương, vì giai tầng xã hội, chúng ta vẫn hòa quyện trong nhau nơi tình nghĩa đồng bào để tương trợ, cứu nguy nhau khi tắt lửa tối đèn, khi khốn cùng, nguy biến. Không phát xuất từ mối tình nghĩa đồng bào, đùm bọc, cưu mang nhau, thì nòi giống khó trường tồn, đất nước khó phát huy. Quê hương còn chìm đắm lâu nữa trong cơn tha hóa, loạn tưởng.

Trong những ngày khó khăn, bức bách nơi quê nhà, mà tôi và chư Tăng Ni, Phật tử trong Giáo hội chúng tôi đang phải chịu đựng, xin quí vị cùng với chúng tôi một phút yên lặng nhớ nghĩ đến những Dân oan khốn cùng, tuyệt vọng, để quyết chí khởi đầu kỷ nguyên sum họp, xây dựng và yêu thương, nhằm xóa tan một thời đại hắc ám, đố kỵ, hãm hại nhau vì những ý tưởng phi dân tộc.

Thay mặt Viện Hóa Đạo, tôi xin gửi lời cảm tạ đến chư vị ân nhân trong Danh sách thứ hai sau đây đã gửi tiền ủng hộ Qũy Cứu tế Dân oan :

Tiền nhận được tại Thanh Minh Thiền viện, Saigon : Hòa thượng Thích Tâm Châu 1000 Mỹ kim.

Tiền nhận được tại Chùa Giác Hoa, Saigon : Cụ Hoàng Minh Chính 3000 Mỹ kim, Nhóm Thiện nguyện Rạng Đông (Úc châu) 1000 Úc kim, Đh. Diệu Nguyên Hạnh 100 Úc kim, Quý Phật tử chùa Phật Quang 700 Úc kim.

Tiền nhận được tại chùa Liên Trì, Saigon : Đh. Trần Xuân Mai 160 Euros, Vietnam Sidney Radio 1000 Úc kim, Phật tử chùa Liên Trì 3850 $VN; Ban Từ thiện chùa Pháp Hoa và Phật tử ở Nam Úc 6000 Úc kim, Khối 1706 (Úc) 1000 Úc kim.

Tiền nhận được tại chùa Từ Hiếu, Saigon : Hòa thượng Thích Nguyên Trí, chùa Bát Nhã (Hoa Kỳ) 1500 Mỹ kim, Tổng vụ Từ thiện Xã hội GHPGVNTN Hải ngoại tại Úc 2500 Úc kim, Anh chị Bửu Tiếu (Hoa kỳ) 50 Mỹ kim, Ông Hoàng Nam, Đài Phát thanh 2VN 13.200 Úc kim.

Tiền nhận được tại Cơ sở Quê Mẹ, Paris : Đài Phát thanh Việt Nam Hải ngoại tại Oklahoma 1365 $US.

Tiền nhận được thông qua Hòa thượng Thích Hộ Giác, Văn phòng II Viện Hóa Đạo, Hoa Kỳ (từ 15.8 đến 31.8) : Buu Sieu Chau 100 $US, Nhóm Hạt Nắng 500$US, Trang Nguyên 200$US, Kha Van Le 80$US, Hiep Le 20$US, Mai Nguyen 120$US, Hanh Dao Danny Tran 100$US, Le Thi Nguyen 20$US, Tung Huynh 100$US, Chinh Nguyen 200$US, Chùa Tam Bảo, TT Thich Tam Quang 500$US, Dam Trang 300$US, Simon Si Luong 200$US, Ms Catherine Nguyen 20$US, Da Nguyen 100$US, Chin Huynh 100$US, Tran D Dung 200$US, Mr & Mrs Duc Kieu 500$US, Luong Sy 100$US, Doris Nguyen 100$US, David Tran 100$US, Cộng đồng Người Việt Quốc gia, Dallas 100$US, J. Nails 30$US, Van Hien 200$US, Duyet Ha 50$US, PTP 50$US, Ngon Le 100$US, Mong Nguyen 40$US, Toan Thi Tran 30$US, Cuong Dang Pham Ph. D Thuy Tu P. Pham 200$US, Minh K Nguyen 200$US, Loc Xuan Ho 30$US, Ngo N Nguyen 50$US, Khoa Nguyen 20$US, An Nguyen
100$US, Thuy T Le 50$US, Mr & Mrs Minh & Nguyet Truong 100$US, Phung Nguyen 20$US, Duc Nguyen 50$US, Lan Anh Ton Nu Tran & Gia Quoc Tran 100$US, Nguyen Thi Nguyet Nga 600$US, Nu Thi Vu 100$US, Minhanvan Tri Quy Nguyen 30$US, Dung Tri Van 100$US, Luong Vi 10$US, Thao Ho 50$US, AllReal Estate Funding 100$US, Mai Tran 50$US, Gia Dao 50$US, Minh Thi Ho 300$US, Đài Phát thanh Tiếng Nước tôi 1000$US, Diep Ha 250$US, Tra Thanh Le 100$US, Le Van Thu 100$US, Tam Nguyen 50$US, Lac Tran 20$US, Ol Cott Pham 120$US, Hoang Huu Vu & Lan Thi Nguyen 100$US, Thuy T Nguyen 400$US, Jiffany L Kieu Family Frust 101$US, Tommy Tam Phan 200$US, RT Construction Co 100$US, Trung Thien Vo Xoan T Le 20$US, Lu Luong Trinh & Ngu Ba Trinh 100$US, Thong V Nguyen 300$US, Tu Khanh N Hoang 100$US, Neil Dinh 100$US, Anh Ngoc Ngo 200$US, Ngon Van Tran 100$US, Ty Ngoc Huynh & Cuc Kim Lam 50$US, Jonny Doan & Thi Nguyen 100$US, Hoa Hong Nguyen 1000$US, Thanh V. Le 100$US, Minh H Pham & Tuyet C Chuong 50$US, Khanh Thi Do & Binh Tran 100$US, Phuong Vu Tram & Hang Lam 300$US, Nhi Thi Tran 100$US, Nga Bach Tran 300$US, Asian American Buddhist Association 500$US, My Trong Nguyen 50$US, Thanh & Lan & Hue 300$US, Phuoc & Kim Thu 100$US, Le Hoang Le, Minh Phu 50$US, Tuan Huynh 10$US, Nguyen Tu Huy 50$US, Mindy Tran 100$US, Nam Dinh 100$US, Nhat Chinh 20$US, Dai Mai 100$US, My Ngoc Vu 100$US,Thanh Van Huynh Mai Thi Mai 50$US.

Cùng với lời cám tạ chân thành, tôi xin cầu chúc quí liệt vị vạn sự cát tường, thân tâm an lạc.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 16.9.2007
Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
ấn ký
Sa môn Thích Quảng Độ

September 16, 2007

Những viên đá lát đường, NgocPhuongNam

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 8:21 pm

Những viên đá lát đường
Friday, September 14, 2007

Trường An/Người Việt

WESTMINSTER – Trong một buổi lễ tưởng niệm thảm họa 11 Tháng Chín tại Little Saigon, có một cô gái với xấp thư kiến nghị đặt gọn ghẽ trên bàn. Người nào đi qua, cô cũng nói sơ lược nội dung lá thư và nhờ họ ký tên trong danh sách thỉnh nguyện.

Có người chỉ mỉm cười rồi bỏ đi, nhưng cũng có người dừng lại hỏi han, xem nội dung lá thư đó, rồi vui vẻ ký tên, ghi lại địa chỉ nhà hoặc email làm chứng.

Trong sinh hoạt cộng đồng, ta cũng thường gặp những người như thế tại những khu chợ, nơi công cộng, những buổi meeting, hội chợ… Hầu hết họ là những thiện nguyện viên cho một tổ chức nào đó. Những lá thư kiến nghị họ trao và yêu cầu chúng ta ký tên có thể dùng để lên tiếng giúp cho một hay nhóm người thế nào đó, cũng có thể từ những kiến nghị thư đó sẽ giúp ích cho một cộng đồng hay không chừng, nó có khả năng giúp thay đổi vận mệnh của cả một quốc gia!

Nói rằng chỉ nhờ những lá thư kiến nghị mà làm thay đổi vận mệnh của cả một quốc gia, dân tộc thì có vẻ xa vời quá. Nhưng thực tế, có những chính phủ sụp đổ mà nguyên nhân bắt nguồn từ những chữ ký trên thư kiến nghị.

Trở lại chuyện cô gái và những lá thư kiến nghị. Cô cho biết cô là một thành viên sinh hoạt trên mạng Diễn Ðàn Tiếng Nói Tự Do của Người Dân Việt Nam, thuộc hệ thống PalTalk. Nickname của cô là Ngọc Phương Nam. Tự thân, tên diễn đàn cũng đã nói lên được chủ trương và quan điểm của những thành viên tham dự. Ngọc Phương Nam cho biết, thời gian vừa qua, qua báo chí và Internet, ai cũng biết là nhà nước Cộng Sản Việt Nam đang tìm cách hãm hại Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ và triệt hạ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Việc bắt Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ vào tù chỉ còn là vấn đề thời gian. Trước viễn cảnh ngày càng đen tối của GHPGVNTN, Diễn Ðàn Tiếng Nói Tự Do của Người Dân Việt Nam quyết định viết một kiến nghị thư gởi cho Quốc Hội Hoa Kỳ, chủ tịch hội đồng Liên Hiệp Quốc, các vị nguyên thủ quốc gia các nước tự do, tổng thống và phó tổng thống Hoa Kỳ, với lời kiến nghị:

“1. Hà Nội hãy phục hồi danh dự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Chúng tôi phản đối hành động đưa hình ảnh Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, viện trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN lên truyền thanh, truyền hình với lời lẽ thiếu văn hóa, thô bạo, xấc xược, hỗn láo; nâng cao quan điểm chính trị trong vụ hòa thượng cứu trợ dân oan, nhằm lăng nhục uy tín hòa thượng, tạo lý do không chính đáng, đưa hòa thượng ra tòa, để triệt tiêu GHPHVNTN.

2. Hãy chấm dứt ngay chiến dịch mời làm việc, huy động lực lượng công an hùng hậu, chìm, nổi bao vây Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ tại Thanh Minh Thiền Viện, bao vây chúng tôi tại chùa Báo Quốc, và các chùa thuộc GHPGVNTN khắp các tỉnh thành có ban đại diện GHPGVNTN trong suốt tuần lễ Vu Lan đến nay (1 Tháng Chín 2007), vẫn chưa tháo lui, làm tín đồ sợ hãi không dám đi chùa lễ Vu Lan. Căn ngăn chúng tôi không được ra khỏi chùa, không cho chúng tôi thăm viếng, mừng tuổi hạ chư Tôn Ðức các tổ đình, các chùa trong thời gian mãn hạ. Chính quyền đang vi phạm tín ngưỡng của chúng tôi.

3. Hãy hủy bỏ ngay lệnh quản chế hai vị hòa thượng lãnh đạo tối cao của GHPGVNTN, Ðức Tăng Thống Ðệ Tứ, đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo Thích Quảng Ðộ.

4. Hãy trả lại pháp lý sinh hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ra khỏi Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc, để chúng tôi có cơ hội ngồi gần lại với nhau, cùng nhau bàn luận Phật sự của chính chúng tôi.” Trích thư kiến nghị.

“Trọng lượng” thư kiến nghị được “cân” bằng chữ ký. Thế là những thành viên của diễn đàn ở khắp nơi trên thế giới, bằng những phương cách riêng của mình cùng nhau đi xin… Cô Ngọc Phương Nam cho biết, hiện nay, diễn đàn của cô đã xin được trên 1,500 chữ ký.

Hôm đó, trong lúc đứng chờ đến giờ làm lễ tưởng niệm, tôi thấy rất nhiều người ghé lại ký tên không chút đắn đo, hình như họ coi đó là một bổn phận. Cái bổn phận thật vô hình, trừu tượng. Nếu một người cho đó là bổn phận, họ sẽ ký tên, còn ngược lại, có lẽ lương tâm của họ cũng chẳng cắn rứt.

Những người không ký tên vào thư kiến nghị mà cô Ngọc Phương Nam đưa ra, chắc nghĩ rằng có chữ ký của mình hay không chắc cũng không ảnh hưởng gì. Hoặc họ nghi ngờ hiệu quả công việc cô đang làm? Cũng có thể lắm, vì làm sao những chữ ký có thể thay đổi được tình cảnh của Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ và GHPGVNTN ngày nay?

Cô Ngọc Phương Nam thì cho rằng chính quyền Cộng Sản Việt Nam rất sợ những kiến nghị thư của đồng bào hải ngoại. Càng nhiều chữ ký càng nói lên sự đoàn kết và sức mạnh của chúng ta. Cô thí dụ, trước khi ông Nguyễn Minh Triết qua Mỹ, Tổng Thống Bush đã có cuộc gặp gỡ bốn nhà dân chủ tại Tòa Bạch Ốc; đại sứ Mỹ tại Việt Nam trước khi nhậm chức cũng đã có buổi gặp gỡ các đại diện của cộng đồng. Chữ ký của chúng ta đáng giá lắm!

Ðứng cạnh bàn cô gái xin chữ ký, tôi cứ suy nghĩ mãi về việc làm của cô, của đồng bào tham dự lễ tưởng niệm hôm đó. Cô tươi cười, mời gọi, giải thích nội dung thư kiến nghị, cứ thế từng người, từng người một, lần lượt ký tên.

Nhìn những người vây quanh chiếc bàn nhỏ và cô gái trẻ, tôi có cảm tưởng như họ là những người phu khiêng đá lát đường. Nhìn danh sách chữ ký như những viên đá được xếp ngay ngắn, thẳng hàng, tôi chợt nghĩ Ngọc Phương Nam đang làm một chất keo liên kết những viên đá kia để cùng xây con đường về phương Nam.

Những viên đá lát đường được đặt xuống bằng cả tấm lòng.

Xin cám ơn cô, Ngọc Phương Nam.

Cô “Ngọc Phương Nam” (trái) đang trình bày nội dung thư kiến nghị với đồng hương. (Hình: Vũ Ðình Trọng/Người Việt)

Sống tưởng công danh không tưởng nước
Sống lo phú quý chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống
Sống thế làm chi sống chật trời

Tai mắt tim gan đứng giữa trời
Không duyên cũng nợ núi sông thôi
Còn dòng máu đỏ còn dân tộc
không lẽ khoanh tay đ
mặc trời

không thành công thì thành nhân

Thằng tỉnh thì đã vượt biên
Thằng mê ở lại thằng điên nắm quyền

Sample letter to the US Congress

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 1:06 pm

September 7, 2007

The Honorable XXXXX

U.S. Congress

Dear Member of U.S. Congress,

I write to request your support for H.R. 3096 – Vietnam Human Rights Act of 2007. Since Vietnam joined the World Trade Organization (WTO), the police state has initiated a severe crackdown on human rights activists and advocates for the freedoms of speech, association and assembly.

In May of 2007, the United States Commission on International Religious Freedom recommended to Secretary of State Condoleezza Rice that Vietnam is to be placed back on the 2007 CPC list for its ongoing violations of human rights and religious freedom.

Most recently, AFP’s news report released on September 5, 2007, shows that the Vietnamese authority is stepping up pressure on peaceful political dissidents and religious leaders with harassments and house arrest.

Your support for H. R. 3096 would send a clear message to the Vietnamese government that it must respect human rights in order to be integrated into the civilize international community.

Your support for H. R. 3096 also shows that you and U.S. Congress value global human rights.

Sincerely,
Name: xxxx

Address: xxxx

http://www.congress.org/congressorg/officials/congress/

http://www.hahtncttg.org/uploads/randompic/HT_ThichQuangDo.jpg

http://picasaweb.google.com/hoangvinhcalifornia/FatherTadeoNguyenVanLy

http://www.washingtonwatch.com/bills/show/110_HR_3096.html

http://www.cbo.gov/ftpdocs/86xx/doc8611/hr3096.pdf

http://boxer.senate.gov/contact/email/policy.cfm

http://feinstein.senate.gov/public/index.cfm?FuseAction=ContactUs.EmailMe

Hòa thượng Thích Hộ Giác ra Thông bạch khẩn phản đối Nhà cầm quyền Hà Nội

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 12:54 pm

********************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
********************************************************************************

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.9.2007
Hòa thượng Thích Hộ Giác ra Thông bạch khẩn phản đối Nhà cầm quyền Hà Nội vu cáo Hòa thượng Thích Quảng Độ và GHPGVNTN, kêu gọi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử và Đồng bào các giới tổ chức biểu tình tọa kháng trước các Đại sứ quán Hà Nội, viết thư phản kháng gửi về Hà Nội và gửi các Chính phủ, các Đại biểu Quốc hội trong thế giới yêu cầu can thiệp

PARIS, ngày 16.9.2007 (PTTPGQT) – Từ Los Angeles, bang California, Hòa thượng Thích Hộ Giác viết Thông bạch khẩn gửi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử và Đồng bào các giới ở hải ngoại về việc “gần một tháng qua, các cơ quan truyền thông, truyền hình, truyền thanh và báo chí trong nước tung chiến dịch nước lũ bằng những lời lẽ nặng nề, thiếu văn hóa đối với hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Đặc biệt đối với Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo”.

Nhân danh Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Chủ tịch Văn phòng II Viện Hóa Đạo kiêm Chủ tịch Hội đồng Điều hành Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, Hòa thượng Thích Hộ Giác

- “Cực lực phản đối hành động thiếu công chính, kém văn hóa và vi phạm pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước CHXHCNVN diễn ra tới tấp suốt gần một tháng qua đối với Hòa thượng Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm lãnh đạo GHPGVNTN”;

- “Yêu cầu Đảng Cộng sản và nhà nước CHXHCNVN chấm dứt tức khắc các hành động, và ngôn phong thiếu văn hóa trên các cơ quan truyền thông đại chúng”. Vì theo Hòa thượng, “cách hành xử này vi phạm điều 71 trên Hiến pháp”, “điều 33 trong Bộ luật Dân sự”, “điều 121 và điều 122 trong Bộ luật Hình sự”, “và vi phạm điều 9 trong Bộ luật Tố tụng hình sự”.

Hòa thượng “yêu cầu Ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, các Chính phủ, Quốc hội và nhân dân yêu chuộng công lý trên thế giới cùng các Tổ chức Nhân quyền Quốc tế và các Tôn giáo bạn lên tiếng can thiệp, yêu cầu nhà nước CHXHCNVN chấm dứt đàn áp GHPGVNTN, chấm dứt vu khống, mạ lỵ Hòa thượng Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm của GHPGVNTN.

Hòa thượng Thích Hộ Giác “thiết tha kêu gọi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử và Đồng bào các giới trên năm châu:

- “Hãy viết thư cho Chính phủ, các vị Đại biểu Quốc hội tại quốc gia mình cư ngụ nói lên thảm trạng GHPGVNTN bị đàn áp và bị lăng nhục để yêu cầu can thiệp, áp lực chấm dứt tình trạng hiểm nguy đang đè nặng GHPGVNTN”; và “để nhanh chóng và tiện lợi, xin quý liệt vị viết trên bưu thiệp gửi các ông Nông Đức Mạnh (1A Hùng Vương – Hà Nội), Nguyễn Minh Triết (1 Bách Thảo – Hà Nội), Nguyễn Tấn Dũng (Hoàng Hoa Thám – Hà Nội) và Nguyễn Phú Trọng (35 Ngô Quyền – Hà Nội), với dòng chữ : “Chúng tôi cực lực phản kháng sự vu khống Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, yêu cầu chấm dứt tức khắc cung cách thiếu văn hóa, phi pháp luật và khủng bố của Đảng Cộng sản và Nhà nước CHXHCNVN”, rồi ký tên, ghi địa chỉ người viết”.

Hòa thượng Thích Hộ Giác cũng yêu cầu khắp năm châu “tổ chức các cuộc biểu tình tọa kháng trước Tòa Đại sứ, Tổng lãnh sự quán CHXHCNVN ở quốc gia mình cư ngụ. Xin ngồi im lặng trang nghiêm cầu nguyện dưới các biểu ngữ yêu sách, sau lưng các nhà lãnh đạo tôn giáo”.

Và đặc biệt, “Tại các chùa viện, tổ chức lễ Cầu an cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm thuộc Viện Hóa Đạo và 20 Ban Đại diện GHPGVNTN trên toàn quốc”.
Sau đây là nguyên văn Thông bạch khẩn của Văn phòng II Viện Hóa Đạo :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VĂN PHÒNG II VIỆN HÓA ĐẠO
311 E. Mision Rd. – San Gabriel, CA. 91776, Hoa Kỳ
Số: 01/VPIIVHĐ/CT

THÔNG BẠCH KHẤN CỦA VĂN PHÒNG II VIỆN HOÁ ĐẠO
Về việc Nhà Cầm quyền Việt Nam vu cáo Hòa thượng Thích Quảng Độ
Viện trưởng Viện Hóa Đạo và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Kính gửi: Chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và Đồng bào các giới tại hải ngoại.

Kính thưa quý Liệt vị,

Gần một tháng qua, các cơ quan truyền thông, truyền hình, truyền thanh và báo chí trong nước tung chiến dịch nước lũ bằng những lời lẽ nặng nề, thiếu văn hóa đối với hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Đặc biệt đối với Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo.

Sự kiện trầm trọng đến nỗi Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang đã phải lên tiếng về thực trạng nghiêm trọng đang xẩy ra qua Giáo Chỉ thành lập Văn phòng II Viện Hóa Đạo: “Những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia tăng của Nhà cầm quyền CHXHCNVN, đặc biệt gần đây đối với các Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Hơn nữa, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc, song song với chiến dịch báo chí, truyền thanh, truyền hình của Nhà nước trên toàn quốc tấn công, bôi nhọ, vu cáo GHPGVNTN và Viện trưởng Viện Hóa Đạo, vì Giáo hội thể hiện đức từ bi của đạo Phật góp phần cứu trợ vật chất cho tập thể Dân oan đi khiếu kiện bị thiếu thốn lương thực. Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo hội đã được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và ngày 23.8 tại Hà Nội. Thực tại Dân oan đi khiếu kiện là mối bức xúc xã hội trầm trọng, sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay, là vì nỗi oan ức của người nông dân bị cướp đất, cướp nhà, bị lăng nhục và xúc phạm nhân phẩm từ hơn 20 năm qua không được nhà cầm quyền giải quyết. Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt b
, đàn áp nước lũ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào”.

Trước hoàn cảnh nguy bức ấy, nhân danh Văn phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, chúng tôi:

- Cực lực phản đối hành động thiếu công chính, kém văn hóa và vi phạm pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước CHXHCNVN diễn ra tới tấp suốt gần một tháng qua đối với Hòa thượng Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm lãnh đạo GHPGVNTN;

- Yêu cầu Đảng Cộng sản và nhà nước CHXHCNVN chấm dứt tức khắc các hành động, và ngôn phong thiếu văn hóa trên các cơ quan truyền thông đại chúng. Vì cách hành xử này vi phạm điều 71 trên Hiến pháp, điều này “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”, vi phạm điều 33 trong Bộ luật Dân sự về “Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín ; không ai được xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm uy tín người khác”, vi phạm điều 121 và điều 122 trong Bộ luật Hình sự về “Tội làm nhục người khác” và “Tội vu khống”, và vi phạm điều 9 trong Bộ luật Tố tụng hình sự “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật”.

Nhân danh Văn phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, chúng tôi kính yêu cầu Ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, các Chính phủ, Quốc hội và nhân dân yêu chuộng công lý trên thế giới cùng các Tổ chức Nhân quyền Quốc tế và các Tôn giáo bạn lên tiếng can thiệp, yêu cầu nhà nước CHXHCNVN chấm dứt đàn áp GHPGVNTN, chấm dứt vu khống, mạ lỵ Hòa thượng Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm của GHPGVNTN.

Nhân danh Văn phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, chúng tôi thiết tha kêu gọi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử và Đồng bào các giới trên năm châu:

- Hãy viết thư cho Chính phủ, các vị Đại biểu Quốc hội tại quốc gia mình cư ngụ nói lên thảm trạng GHPGVNTN bị đàn áp và bị lăng nhục để yêu cầu can thiệp, áp lực chấm dứt tình trạng hiểm nguy đang đè nặng GHPGVNTN;

- Viết thư gửi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước CHXHCNVN ở Hà Nội phản đối hiện trạng phi pháp nói trên. Để nhanh chóng và tiện lợi, xin quý liệt vị viết trên bưu thiệp gửi các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng ở Hà Nội, với dòng chữ : “Chúng tôi cực lực phản kháng sự vu khống Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, yêu cầu chấm dứt tức khắc cung cách thiếu văn hóa, phi pháp luật và khủng bố của Đảng Cộng sản và Nhà nước CHXHCNVN”, rồi ký tên, ghi địa chỉ người viết;

- Hãy tổ chức các cuộc biểu tình tọa kháng trước Tòa Đại sứ, Tổng lãnh sự quán CHXHCNVN ở quốc gia mình cư ngụ. Xin ngồi im lặng trang nghiêm cầu nguyện dưới các biểu ngữ yêu sách, sau lưng các nhà lãnh đạo tôn giáo;

- Tại các chùa viện, tổ chức lễ Cầu an cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm thuộc Viện Hóa Đạo và 20 Ban Đại diện GHPGVNTN trên toàn quốc.

Trân trọng.

Los Angeles, 15 tháng 9 năm 2007
Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo
Chủ tịch Văn phòng II Viện Hóa Đạo
kiêm Chủ tịch Hội đồng Điều hành GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ
ấn ký
Hòa thượng Thích Hộ Giác

September 14, 2007

Bản tin khẩn cấp của Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh Vì Công Lý từ Sài Gòn báo tin

Filed under: Uncategorized — freespeechforvietnam @ 5:51 pm
Mấy ngày hôm nay lác đác đã có hàng chục đồng bào dan oan các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Long An…đã kéo lên Thành phố Sài Gòn để đưa đơn khiếu kiện tại văn phòng tiếp dân của đảng và nhà nước CSVN.

Cụ thể ngày 12/9/2007 đã có hơn 50 bà con dân oan tỉnh An Giang đi bằng đủ phương tiện kéo lên Sài Gòn tập trung tại số 210 đường Võ Thị Sáu thuộc quận 3. Trong số đó có 35 đồng bào người dân tộc Khơ Me phần lớn họ là nông dân nghèo khổ bị chánh quyền CS tỉnh này cướp đoạt đất đai không bồi thường thoả đáng. Tình cảnh này đã dồn gia đình họ vào cảnh đã khổ cực nay lại càng cực khổ hơn, nhưng đến chiều cùng ngày lực lượng công an đã hốt tất cả số dan oan này về quê nhà của họ.

Sáng sớm ngày 13/9/2007 lại có thêm 30 đồng bào dân oan tỉnh An Giang đi cả đêm nên xuất hiện rất sớm tại 210 Võ Thị Sáu để kêu kiện, thì đến 14 giờ chiều cùng ngày họ bị hàng chục công an CS thành phố dùng vũ lực xô đẩy cưỡng bức toàn bộ bà con lên xe để trở về quê. Cũng trong ngày 13/9/2007 có bà Võ Thị Dua sanh năm 1949 là dân oan quê tỉnh Long An tay cầm biểu ngữ có nội dung : Chánh quyền tỉnh Long An hãy trả đất trả nhà cho tôi, liền ngay ít phút sau đó bà đã bị hơn 20 tên công an mặc cảnh phục đàng hoàng xông vào giật và xé bỏ rất thô bạo, tiếp sau đó chúng bắt bà đưa lên xe cảnh sát số 51B- 4034 chở về đồn công an phường 7 quận 3 để hỏi cung y như tội phạm, cho đến hơn 15 giờ chiều cùng ngày chúng thả bà ra khỏi đồn và cưỡng chế lên xe để trở về Long An.

Như vậy, đối với đồng bào dân oan hoàn cảnh là vô cùng thương tâm, bi đát họ không còn con đường nào khác là phải chắt chiu từng đồng xu do đi làm thuê làm mướn hay vay mượn để kéo nhau lũ lượt lên thành phố kêu cứu chánh quyền CS cấp trung ương đại diện ở Sài Gòn. Cảnh ngộ họ đã thê thảm như vậy nhưng khi lên được tới thành phố này thì ngay lập tức chánh quyền CS Sài gòn được sự chỉ đạo từ CS cấp trung ương đã cho gần chục xe lớn nhỏ cưỡng chế xúc toàn bộ sô dân oan này về ngay lại quê nhà mặc cho họ gào thét kêu la. Chánh quyền CSCN tính toán rằng từ nay trở đi hễ có chút dân oan nào tập trung về được Sài gòn thì sẽ dùng mọi biện pháp kể cả thô bạo nhất để cưỡng chế ngay trở về nơi họ đã xuất phát và làm như thế thì may ra sẽ ngăn chặn được làn sóng dân oan tập trung đông đảo về Sài Gòn như các lần biểu tình căng thẳng trứơc đây. Việc làm này của chánh quyền CSVN là vi phạm luật pháp rất rõ ràng và trắng trợn, vì họ đã xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo của công dân mà pháp luật nhà nước CSVN đã quy định, đó là tội cản trở quyền khiếu nại và tố cáo của công dân. Trong khi đó tại văn phòng tiếp dân số 210 Võ Thị Sáu thì chánh quyền CS đã cho lập chốt canh gác ngày đêm bao gồm các lực lượng công an, mật vụ an ninh và dân phòng phong toả rất chặt chẽ nhằm ngăn cấm không cho bất cứ người dân oan nào lai vãng đến gần. Vậy thử hỏi chánh quyền CSVN độc tài đã lập ra văn phòng tiếp công dân để làm gì ? Họ có thực sự quan tâm đến việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân Việt Nam đang mòn mỏi héo hon, ngày đêm hy vọng vào công lý và sự quan tâm của nhà nước CSVN này nữa hay không, hay họ lập ra văn phòng tiếp công dân chỉ là hình thức, là tiếp dân cuội và để lừa bịp dư luận mà thôi ?

Một tin cực kỳ nghiêm trọng được bà con tỉnh Tiền Giang nơi các chị Lê Thị Nguyệt và chị Cao Quê Hoa cho biết : Vào hồi 15 giờ ngày 15/9/2007 tại quán nước nhà ông Nguyễn Văn Trinh ở ấp Tân Phú, xã Phú Thuận, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đã bất ngờ xuất hiện khoiảng từ 25-30 thanh niên và phụ nữ với bộ mặt dữ dằn như băng nhóm xã hội đen đã xông vào vô cớ đánh đập rất dã man gia đình ông Ba Trinh. Chúng đã phá nát quán hàng nghèo nàn nhà ông Ba và đánh bà vợ ông Ba Trinh bị thương rất nặng, làm bà con lối xóm phải xúm vào đưa bà vợ ông Ba đi cấp cứu. Khi con gái ông Ba Trinh đang chăm sóc cho má trong phòng cứu thương thì toán người bất lương kia lại xông vào đánh đập cô con gái ông Ba Trinh rất tàn nhẫn. Kết quả cô con gái ông bà Ba Trinh cũng bị thương nặng và y bác sĩ bệnh viện lại phải đưa cháu gái naỳ vào cấp cứu vết thương như số phận bà mẹ đã bi chúng hành hung trước đó không lâu. Khi lũ người bất lương kia vừa ra tay đánh đập vợ con ông Ba Trinh chúng vừa buông lời la hét : Chúng tao đánh cho cả nhà bay cho hết đi đấu tranh biểu tình, thưa kiện nghe chưa. Chúng tao bất chấp chúng mày tố cáo đấy !!!

Trong khi lũ côn đồ ra tay hành hung tàn bạo với vợ con ông Ba Trinh thì bà con hàng xóm gọi điện thoại khẩn cấp kêu cảnh sát 113 và công an xã đến ứng cứu can thiệp, thì không một bóng dáng công an nào xuất hiện để bảo vệ dân lành ??? Và ngay trong lúc đó tất cả bọn người gây tội ác trên chúng còn cố ý đứng lại thách thức bà con gọi được công an đến cứu giúp !!!

Cần nói thêm là ông Ba Trinh chính là người đàn ông nông dân đã tham gia biểu tình, gọi loa rất tích cực cùng bà con tỉnh Tiền Giang đấu tranh 27 ngày đêm tại Sài gòn hồi tháng 7/2007. Ông cũng chính là người đội mũ trắng đã đứng cùng gần Hoà Thượng Thích Quảng Độ và Thượng toạ Thích Không Tánh cùng nhiều nhà tu hành khác và chi Cao Quế Hoa trong sáng ngày 17/7/2007 khi phái đoàn cứu trợ từ thiện do Hoà thượng Thích Quảng Độ dẫn đầu ra tay cứu tế đồng bào dân oan, và sau khi hơn 1000 dân oan bị đàn áp khốc liệt buộc trở về quê nhà thì ông Ba Trinh đã bị công an Tiền Giang bắt giữ nhiều ngày để thẩm vấn. Cũng từ ngày đó đến nay ông liên tục bị công an, mật vụ tỉnh này gọi làm việc thẩm vấn, hỏi cung, đe doạ nhưng ông kiên quyết giữ vững lập trường đấu tranh đòi quyền lợi cho bà con và cho gia đình mình bị chánh quyền CSVN cướp đoạt. Chính vì vậy nên công an Tiền Giang coi ông là một cái gai cần đàn áp và nhổ bỏ cho khuất mắt để đàn áp khí thế đấu tranh nhiệt tình của ông. Giờ đây có thể khẳng định chắc chắn rằng công an CSVN tinh Tiền Giang đã tổ chức đánh đập tàn bạo cả nhà ông Ba Trinh nhằm khủng bố tinh thần tranh đấu của ông.

Chúng tôi cực lực tố cáo hành động đê hèn đầy tội ác của nhà cầm quyền CSVN tỉnh Tiền Giang đã dùng lực lượng côn đồ và an ninh mật vụ giả danh để đàn áp dân lành vô tội như gia đình vợ con ông Ba Trinh. Đồng thời chúng tôi cũng kêu gọi dư luận bà con hảo tâm trong và ngoài nước nhanh chóng hỗ trợ giúp đỡ các nạn nhân của gia đình người nông dân nghèo khổ đang
trong cơn hoạn nạn hiện nay được mau chóng phục hồi sức khoẻ để cứu sống tính mạng của 2 mẹ con họ.

Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh Vì Công Lý thực hiện và tường trình từ Sài gòn
Ngày 14/9/2007
Hồi 20 giờ 15 phút.

Attached file: jpg nguyenvantrinh.jpg (17.10 KB)


1_46eadb602b4f9.jpg 171X200 px
Next Page »

Blog at WordPress.com.