– Tờ báo thứ 3 là Tổ Quốc của nhóm trí thức dân chủ tiến bộ do tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, cựu đại tá Phạm Quế Dương… đứng đầu, và gồm có hơn 10 biên tập viên là các nhà trí thức tranh đấu dân chủ ở trong nước như Phạm Hồng Đức, Nguyễn Phương Anh… v.v… Và một số ký giả bên ngoài tham gia trong hội đồng cố vấn như các ông Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Gia Kiểng, Bùi Tín…. và tôi cũng cho họ biết tờ báo này đã ra được số 21.
– Tờ báo thứ 4 là Tạp chí Dân Chủ của cụ Hoàng Minh Chính và ông Trần Khuê chủ biên. Tờ báo này là cơ quan ngôn luận của Đảng Dân Chủ Thế Kỷ XXI do cụ Hoàng Minh Chính và ông Trần Khuê chủ trương và đứng đầu.
Khi giới thiệu xong các tờ báo trên thì cả ông Michael Orona và cô Nancy N. Trân đều đặt câu hỏi với tôi : “Vậy các tờ báo trên in ấn, xuất bản, phát hành theo phương cách và hình thức nào để đến tay bạn đọc quan tâm?”. Tôi đã nói rõ hình thức phát hành phổ biến bốn tờ báo này, là hiện nay tất cả được song song phát hành dưới hai hình thức, cách thức. Một là trên mạng internet có các địa chỉ rõ ràng để độc giả truy cập, hai là hình thức báo giấy sẽ được in xuống mỗi khi bạn đọc có nhu cầu, với cách thứ 2 chúng tôi chủ yếu để phục vụ người đọc trong nước. Khi nghe đến đây thì cả ông Michael Orona cũng như cô Nancy Trần rất bất ngờ vì lần đầu tiên được nhìn thấy tờ báo của các nhà tranh đấu đối kháng ở trong nước xuất hiện trước mặt các vị khách. Tôi đã tặng lại cho ông Michael Orona 3 số báo Tự do Dân Chủ để các vị khách Hoa kỳ biết và tìm hiểu. Ông Michael Orona đã cám ơn và hứa sẽ mang về Mỹ để báo cáo với Bộ ngoại giao về tình hình đặc biệt thú vị này. Cô Nancy N. Trân còn nêu thêm câu hỏi : “ Vậy bạn đọc trong nước có khó khăn gì để truy cập đọc tờ báo này không và làm sao bạn đọc trong nước có thể xem được các tờ báo này ? ”. Tôi đã trả lời rõ là, tất cả các trang web của hải ngoại và kể cả quốc tế viết về chính trị, thông tin sự thật, thời sự, văn hóa văn nghệ…. trong và ngoài nước đều bị công an và nhà nước CSVN lập tường lửa để ngăn chặn người dân quốc nội. Ai muốn vào xem báo chí của phong trào dân chủ Việt Nam và hải ngoại đều phải biết cách vượt tường lửa do công an VN dựng lên, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đọc các đường link của báo hoặc gửi các số báo đó theo email của họ để độc giả có thể xem được.
Trong buổi gặp này tôi cũng trực tiếp ký tặng cho phái đoàn ông Michael Orona và cô Nancy N. Trân bài “ Góp ý với đại hội đảng CSVN của một người tù vừa được thả khỏi trại giam ”. Tôi đã nói rõ bài này là được viết sau khi tôi được ra tù đúng một tháng, hoàn thành xong vào ngày 24/2/2006. Riêng về bài này, tôi nói lại cho phái đoàn biết rằng : “ Chính ông Michael Marine là đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng với ông bí thư thứ 2 Nalthan W. Jensen là 2 người đầu tiên đã được tôi trực tiếp ký tên trao tặng trong buổi gặp giữa tôi và bí thư thứ 2 của tòa Đại sứ Hoa Kỳ, phụ trách về chính trị tại địa điểm số 59A phố Lý Thái Tổ, Hà Nội vào ngày 01/3/ 2006 năm ngoái trong vòng vây an ninh mật vụ dày đặc hăm dọa tôi, trước khi thư góp ý này được tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang công bố rộng rãi trên mạng internet ”. Tôi cũng cho đoàn biết là buổi gặp đó theo ông Nalthan W. Jensen cho hay chỉ là bước đi tiền trạm nhằm thăm dò thái độ của chính phủ Việt Nam để mở đường cho việc sau đó Ngài đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Michael Marine sẽ gặp tôi sau đấy vào khoảng từ 15 đến 20 ngày.
Nhưng đáng tiếc là sau khoảng thời gian 15- 20 ngày sau đó, thì buổi gặp giữa tôi và ngài đại sứ Hoa Kỳ đã không được tiến hành và diễn ra như lời quan chức Tòa đại sứ Hoa Kỳ đã cho tôi biết trước đó. Có lẽ theo dự đoán của tôi, là vì lý do tế nhị trong ngoại giao và phía Ngài đại sứ Hoa kỳ muốn giữ thể diện cho phía nhà nước CSVN. Bởi thế mà ngài đại sứ đã tạm dừng buổi tiếp xúc đáng lẽ được diễn ra như dự định. Tôi có phát biểu với Tiến sĩ Michael Ôrona như vậy và nói tiếp :
“Hình như Ngài đại sứ Michael Marine là vị đại sứ bênh vực cho Nhân quyền và Dân chủ cho người dân Việt Nam chưa được nhiệt tình và tỏ ra yếu nhất trong mấy nhiệm kỳ các đại sứ Hoa Ky đã công tác tại Việt Nam kể từ khi 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Bởi vì khi tôi còn ở trong trại tù Nam Hà, thì vào giữa năm 2003 đã được gia đình khi đến trại thăm nuôi thông tin cho biết là có ngài đại sứ Hoa Kỳ khi đó là ông Uyliam Bớchat đang giữ nhiệm kỳ tại Việt Nam đã đề nghị chính phủ Hà Nội cho vào gặp tôi trong trại tù Ba Sao – Nam Hà, nhưng không được phía Việt Nam chấp nhận “.
Khi nghe đến đây thì trực tiếp tiến sĩ Michael Orona cũng giải thích để tôi biết rằng : Ngài đại sứ Michael Marine có lẽ vì muốn giữ mối quan hệ ngoại giao 2 nước không trở nên phức tạp và muốn giữ tế nhị cho phía nhà nước Việt Nam, nên chưa muốn tiếp xúc với tôi theo dự định từ trước. Nhưng trong chuyến đi sang Việt Nam lần này chính đích thân ông Michael Marine rất quan tâm đến trường hợp của tôi – ( tức Nguyễn Khắc Toàn) và Ngài đại sứ cùng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã chỉ đạo ông đến gặp c
ụ Hoàng Minh Chính và tôi. Ông nói rõ thêm là chính phủ Hoa Kỳ, Tổng thống G W. Bush, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ và kể cả ngài đại sứ Michael Marine rất quan tâm đến trường hợp của tôi, bởi vì tiếng nói của “các ông là rất quan trọng ”. ( nguyên văn lời ông Michael Orona qua người phiên dịch )
Tiếp theo sau phần trình bày của tôi về những vấn đề đấu tranh đòi tự do, dân chủ ở trong nước. Tôi đồng thời khẳng định là phong trào dân chủ hiện nay trong nước đang tiếp tục phát triển đi lên và nở rộ, nhưng cũng còn rất non yếu và mới chỉ là bước mở đầu tập dượt. Mặc dù chính phủ cộng sản Việt Nam đang tìm mọi cách đàn áp, triệt hạ, thủ tiêu phong trào này, bằng chứng là qua một loạt vụ xử án, bắt bớ những chiến sĩ dân chủ, những chiến sĩ của phong trào hòa bình – Khối 8406 như quí vị đã biết, mà nổi bật nhất là các vụ xử án bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư Nguyễn Bắc Truyền, nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo ở Sài Gòn. Ở Huế thì có linh mục Nguyền Văn Lý, anh Nguyễn Bình Thành, anh Nguyễn Phong, v.v…. Ở Hà Nội thì có 2 luật sư Lê thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài….
Ông Michael Orona có đặt câu hỏi với tôi về tổ chức Công đoàn Độc lập Việt Nam, sự hình thành và hoạt động hiện nay ra sao ? Tôi đã trả lời là tổ chức Công đoàn này được thành lập ngày 20/10/2006 do sự phối hợp tích cực với một số anh em yêu nước ở Hải ngoại nhằm bênh vực cho quyền lợi chính đáng của tầng lớp công nhân và toàn bộ giới lao động nghèo khó ở trong nước đang bị bóc lột, đối xử tàn tệ. Sự hình thành tổ chức Công đoàn độc lập này là cần thiết, nhưng hiện nay do hoàn cảnh tôi bị quản chế ngặt nghèo theo nghị định 53/CP không được ra khỏi khu vực phường cư trú. Một số thành viên tham gia sáng lập hoặc chủ chốt bị bắt giam hay phải chạy sang Cămpuchia để lánh nạn đàn áp trong nước, như Lê Trí Tuệ, Đào Văn Thụy, Cao Văn Nhâm…. Các luật sư là cố vấn pháp lý cho tổ chức này như Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đều bị bắt giam bỏ tù và quản chế dài hạn. Các thành viên khác còn lại hiện nay phải đi vào bí mật, tạm dừng mọi hoạt động. Hơn thế nữa nguồn tài chính, kinh phí để tồn tại tối thiểu cho các thành viên hay để hoạt động không hề có dù chỉ nhỏ nhất. Do đó Công đoàn Độc lập Việt Nam không thể hoạt động được gì, dù cho hàng ngũ giai cấp công nhân Việt nam trong nước vẫn đang quằn quại bị chà đạp, bị bóc lột tàn tệ rất cần đến tổ chức này. Ông Michael Orona và cô Nancy N. Trân rất chăm chú lắng nghe và ghi chép những nội dung tôi nêu ra thẳng thắn về tổ chức Công đoàn độc lập Việt Nam.
Ông Michael Orona cũng hỏi tình hình khối 8406, về sự hình thành và họat động hiện nay ra sao? Tôi đã tóm lược rằng Tuyên ngôn 8406 do các trí thức dân chủ tham gia bàn bạc, phân công soạn thảo, thu thập chữ ký của mọi công dân trong toàn quốc gồm 4 người họp bàn ở Hà Nội ngày 27/02/2006 tại nhà riêng cụ Hoàng Minh Chính. Sau đó vì hoàn cảnh bị công an liên tục vây hãm, bắt bớ, sách nhiễu nặng nề, nên có thêm 3 người nữa ở trong miền Trung và Sài Gòn tiếp sức hoàn chỉnh và công bố vào ngày 08/4/2006. Tính cho đến nay đã có gần 2500 công dân cả nước tham gia ký tên ủng hộ sự nghiệp đòi Dân chủ hóa đất nước toàn diện và triệt để. Trước đây linh mục Nguyễn Văn Lý thay mặt Khối điều hành rất thành công, nhưng từ khi ông bị bỏ tù thì những người còn lại tiếp tục công việc. Tuy nhiên, có thể nói việc điều hành hiện nay không thể hoàn hảo bằng sự điều hành mà linh mục Nguyễn Văn Lý đã làm khi trước. Hiện nay số công dân tham gia vào khối vẫn rất đông đảo không ngừng, vì đó là khát vọng chính đáng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Tôi còn cho phái đoàn đại diện Bộ ngoại giao Hoa Kỳ biết thêm, trong số gần 2500 công dân ký tên công khai vào bản Tuyên Ngôn Tự do Dân chủ 8406 trong hơn 1 năm hình thành và tồn tại phong trào này, thì trong đó có hơn quá nửa là số các công dân đã đến nhà hoặc gửi đơn thư trực tiếp hoặc gián tiếp tới cụ Hoàng Minh chính và tôi đề nghị được tham gia.
Sau đó phái đoàn của ông Michael Orana đã nhắc lại câu hỏi đã nêu ra cho tôi từ đầu cuộc gặp mà chưa được giải đáp về vấn đề an ninh cá nhân, về cuộc sống hiện nay, về những kiến nghị cụ thể, vấn đề nhận định tương lai tình hình chính trị và diễn biến trong nước ra sao? Tôi khẳng định rằng chế độ độc tài trong nước Việt Nam hiện nay là khó có thể nếu không muốn nói là không thể cải tạo, hoặc sửa chữa được nữa, mà nó cần phải được thay thế thực sự, toàn diện trong trật tự, trong hòa bình và thượng tôn luật pháp để chuyển hóa thành chế độ dân chủ tự do, nhân bản và văn minh, tiến bộ hơn. Tôi đã trao cho ông Michael Orana cũng như cả cô Nancy N. Trần một sô bài viết tiêu biểu từ khi ra tù và những bài phát biểu mới đây nhất của mình trong dịp chủ tịch nhà nước CSVN ông Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Kỳ từ ngày 18-23/6/2007. Đó là các bài phát biểu ở Washington – DC, ở Nam California và cả bài phát biểu trong hội thảo bàn tròn ở Paris vào ngày 01/7/2007 do tổ chức Tương trợ Pháp – Việt AFVE tổ chức. Đồng thời, tôi đã nhấn mạnh với phái đoàn đại diện Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, là trong bài phát biểu ở Nam Cali tôi ngày 23/7/2007, rằng tôi hoàn toàn ủng hộ sáng kiến của cụ Hoàng Minh Chính về một hội nghị bàn tròn theo kiểu ở Ba Lan trước kia khi dẫn đến nền dân chủ đa đảng, đa nguyên ở xứ sở này vào những năm cuối thập niên 1980. Cụ thể hội nghị sẽ gồm có 3 đoàn đại biểu đại diện cho các tầng lớp, khuynh hướng chính trị, giáo phái của xã hội hiện nay ở trong và ngoài nước Việt Nam, đó là :
1 – Đoàn đại biểu đảng CSVN đang cầm quyền.
2 – Đoàn đại biểu của nhân sĩ trí thức dân chủ tiến bộ và các nhà hoạt động vì tự do tôn giáo trong nước.
3 – Đoàn đại biểu của nhân sĩ trí thức dân chủ yêu nước của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại.
Tôi đã nhờ người phiên dịch chuyển ngữ giúp lời phát biểu của tôi với tiến sĩ luật khoa Michael Ôrôna tiếp trong lúc này là : “ Trong bài phát biểu đó tôi có đề cập đến việc phải nhanh chóng phi chính trị, phi đảng hóa trong tất cả các bộ máy sức mạnh của chế độ mà bấy lâu nay đã bị ĐCSVN biến thành công cụ riêng cho mình dùng để trấn áp toàn xã hội và cả dân tộc. Đó là các lực lượng vũ trang như quân đội, công an, dân phòng, các cơ quan trong hệ thống tư pháp như tòa án và viện kiểm sát, thanh tra các cấp từ cơ sở đến trung ương”
Tôi nói rằng đấy là giải pháp tốt nhất, con đường ngắn nhất đi đến dân chủ hóa Đất nước, đi đến phồn vinh, ấm no, xóa bỏ mọi nguồn gốc tham nhũng, bất công, chà đạp quyền sống và vi phạm nhân quyền nghiêm trọng một cách triệt để và thực sự nhất. Nếu đảng CSVN biết lắng nghe nguyện vọng của nhân dân và vì dân tộc thì nên chủ động xúc tiến hội nghị này để bàn thảo tìm giải pháp toàn diện và đúng đắn cho lối thoát của cả đất nước. Vì thế tôi hoàn toàn ủng hộ và với hoàn cảnh tại Việt Nam hiện nay cần phải có giải pháp chính trị một cách triệt để, toàn diện và thấu đáo để xây dựng lại thể chế chính trị mới, rũ bỏ thể chế cũ đã lạc hậu và lỗi thời không còn phù hợp với trào lưu tiến bộ của thời đại, cũng như không còn phù hợp với truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc ta nữa. Tôi nói rằng chính ĐCSVN và toàn bộ cấu trúc của cả hệ thống chính trị chuyên chế độc đoán này chứ không phải ai khác từ bao lâu nay đã trở thành lực cản trở rất to lớn cho bước đường chấn hưng và đi lên của cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Nhưng đáng tiếc là não trạng của ĐCSVN hiện nay vẫn chưa nhận thức ra vấn đề đó, trái lại họ bảo thủ rất nặng nề, có thái độ trịch thượng, ngạo mạn, coi thường sức mạnh của quần chúng, khinh thường ước vọng dân chủ tự do của cả dân tộc. Vì thế họ không thèm trả lời cũng như không đáp ứng mọi kiến nghị xây dựng, thật tâm yêu nước và hợp lòng dân của các nhà tranh đấu tiêu biểu và kể cả các công dân Việt Nam khác.
Tôi nói tiếp, chỉ có giải pháp tổ chức Tổng tuyển cử tự do có quốc tế giám sát thì mới bầu ra được Quốc hội thực sự của toàn dân, sau đó xây dựng Chính phủ Đoàn kết Hòa giải, Hòa hợp Dân tộc và Tái thiết Đất nước, cũng như xây dựng mới toàn bộ hệ thống chính quyền các cấp trong cả nước. Khi có chế độ ứng cử và bầu cử tự do thì nhân dân và xã hội mới chọn ra được người tài năng, có đạo đức và nhân cách để tham gia lãnh đạo quốc gia. Khi ấy Đất nước mới kêu gọi và quy tụ được rất nhiều trí thức, doanh nhân, các chính trị gia tài giỏi ở trong nước và đang định cư ở hải ngoại trở về chung tay tái thiết nước nhà, cũng như khi ấy mới xóa bỏ được tận gốc mọi mâu thuẫn, chia rẽ, hận thù Quốc – Cộng dai dẳng mấy thập niên qua. Hơn 3 triệu đồng bào người Việt đang sống ở hải ngoại là sản phẩm của cuộc chiến tranh lạnh trước kia, mà nay đã trở thành quá khứ từ gần 2 thập kỷ qua, đó là hậu quả của sự đối kháng về thế giới quan giữa 2 hệ thống nhận thức tư tưởng, là nạn nhân của sự xung đột về ý thức hệ khác biệt giữa 2 hệ thống chính trị + xã hội của các siêu cường trước đây mà ĐCSVN đã du nhập học thuyết ngoại lai này phản dân tộc, phản dân chủ, nhân quyền vào đất nước ta gây nên. Tôi cho rằng chỉ có tiếp tục đấu tranh kiên trì và mạnh mẽ xây dựng lực lượng dân chủ trở nên lớn mạnh mới tạo được áp lực lớn để buộc ĐCSVN đến ngồi vào bàn hội nghị nhiều bên như vậy. Cuộc đấu tranh kiên trì này cần sự phối hợp và ủng hộ rất to lớn của cộng đồng các quốc gia dân chủ, văn minh trên thế giới trong đó có vai trò rất quan trọng của Hoa Kỳ.
Nhân đây tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ Hoa Kỳ và các Dân biểu cũng như dư luận nhân dân Mỹ hãy ủng hộ mạnh mẻ hơn nữa đối với những tiếng nói của những nhà tranh đấu trong nước và của toàn bộ phong trào đấu tranh dân chủ bằng những biện pháp, chính sách cụ thể, chẳng hạn có thể tạo những áp lực cần thiết trên các phương diện về kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao…. Phía Hoa Kỳ cần phối hợp chặt chẽ với Liên minh Châu Âu và các chính phủ yêu chuộng hòa
bình, dân chủ, tự do và tôn trọng nhân quyền, trên thế giới như các chính phủ Úc và chính phủ một số quốc gia ở Bắc Âu v.v… Nếu được vậy, thì chắc chắn công cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam sớm đạt kết quả và nhân dân ta sẽ sớm thoát khỏi cảnh gông cùm, kìm kẹp của chế độ độc tài hiện nay, lúc đó mọi khổ nạn mà nhân dân Việt nam phải chịu đựng mấy chục năm qua sẽ không còn nữa. Khi Việt nam trở thành quốc gia dân chủ, văn minh và tiến bộ sẽ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp củng cố hòa bình, dân chủ và các thành tích nhân quyền trên thế giới, và là đồng minh tin cậy của bạn bè tiến bộ khắp năm châu trong đó có cường quốc Hoa Kỳ.

Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn trao tặng phái đoàn ông Michael Ôrona các số báo Tập San Tự do Dân chủ và các bài viết tiêu biểu, từ khi ra tù tháng 1/2006, cũng như các bài mới nhất có nội dung kêu gọi dân chủ hóa đất nước của ông.
Tiến sĩ luật khoa Michael Orona đại diện Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã phát biểu như sau : “ Từ lâu tôi đã nghe rất nhiều thông tin về ông. Hôm nay sang Việt nam công tác rất may mắn có dịp được tiếp xúc, gặp gỡ trực tiếp làm việc với ông và được biết thêm nhiều thông tin rất bổ ích. Nhân đây tôi cũng cho ông biết là, Tổng Thống G. W. Bush và bà Ngoại trưởng C. Rice cũng như chính phủ Hoa Kỳ rất mong muốn thấy được Nhân dân Việt Nam sớm được hưởng các quyền Con người căn bản…Chúng tôi mong muốn phong trào dân chủ ở Việt Nam có nhiều thành công hơn nữa…” ( Nguyên Văn qua phiên dịch viên của Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội- anh Đào Công Đức )
Nội dung cuôí cùng : Ông Michael Orona đã hỏi về trường hợp cá nhân của tôi, về tình hình an ninh, về sức khỏe, thì được tôi cho biết từ ngày ra tù đến bây giờ tôi vẫn phải chịu án quản chế 3 năm và mỗi tháng phải lên trình diện công an 1 lần và phải viết báo cáo về mọi hoạt động, mọi sự lên tiếng của mình trong tháng đó . Khi nói đến đây tôi đã đưa ra trên 35 giấy triệu tập, giấy mời làm việc, biên bản xử phạt hành chính do vi phạm quản chế theo nghị định 53/CP có đóng dấu quốc huy của nhà nước CH XHCN Việt Nam, của công an các phường, công an quận Hoàn Kiếm và công an TP Hà Nội. Các biên bản vi phạm hành chính do công an lập ra khi tôi bị bắt giữ do đi quá địa bàn phường trong năm 2006 và đầu năm 2007, tất cả 6 lần. Tôi cũng cho đại diện Bộ ngoại giao Hoa kỳ biết là đã bị ra biên bản xử phạt hành chánh số tiền là 1 500 000 VNĐ – tiền Việt Nam ( tương đương với $100USD ), nhưng tôi kiên quyết không nộp phạt.
Riêng về vấn đề liên lạc qua điện thoại, hiện nay gia đình tôi đã bị cắt 4 lần điện thoại bàn cố định, sau đó tôi đã trao cho phái đoàn xem hơn 40 số simcard điện thoại di động mà mình đã bị an ninh nhà nước phá phách, hủy hoại, cắt bỏ để ngăn cản không cho tôi liên lạc với bạn bè, hay trả lời phỏng vấn báo giới hải ngoại và quốc tế kể từ khi ra tù cho đến hiện nay. Về Internet thì tôi cho đoàn biết đã lắp đặt ký hợp đồng đàng hoàng với bưu điện thành phố Hà Nội nhưng chỉ dùng được 12 ngày, sau đó phía công an Việt Nam cũng ra lệnh cho bưu điện cắt và không bồi thường gì mặc cho tôi liên tục khiếu nại tố cáo.
Khi nói đến đây thì ông Michael Orana và cô Nancy N. Trần có đặt câu hỏi : Thế hiện nay tôi liên lạc với các trang website tại hải ngoại, quốc tế bằng cách thức nào ? Tôi đã nói rằng phải ra các quán internet công cộng để giải quyết nhu cầu đó, để truy cập vào các trang đó phải có kỹ thuật vượt tường lửa do an ninh trong nước lập ra để ngăn chặn thông tin và các kiến thức về nhân quyền, dân chủ cũng như sự thật trong nước đang diễn ra. Việc trao đổi gửi thông tin đi cũng như nhận thư từ của bạn bè và anh em cùng đấu tranh dân chủ với mình bên ngoài là rất khó khăn không thể thực hiện được khi bị công an Việt nam thiết lập chốt canh gác ngày đêm. Và việc đi xem tin tức trên Mạng kiểu này cũng không được công khai và phải hết sức bí mật nếu không thì phía công an cũng bắt giữ theo nghị định quản chế 53/CP. Tôi cho biết là bản thân đã từng cùng kỹ sư Đỗ Nam Hải đã bị bắt giữ tại quán internet số 51 phố Trần Xuân Soạn trong ngày 27/02/2006 vào năm ngoái khi nhóm chúng tôi chuẩn bị ra đời Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 8406. Tôi cũng chỉ trực tiếp cho phái
oàn biết địa điểm tiệm bún chả + bia hơi + nem rán số 15 Ngõ Tràng Tiền đối diện với nhà mình chính là nơi công an Hà Nội thường xuyên lập chốt canh gác đêm ngày mỗi khi có Hội nghị quốc tế hay các đoàn khách nước ngoài thăm viếng. Căng thẳng nhất là dịp trước hội nghị APEC tháng 11 năm ngoái, họ đã lập chốt gác hơn 2 tháng trước nhà biến tư gia của gia đình tôi thành một nhà tù giữa lòng thành phố khi họ biết sẽ có phóng viên của tờ báo Mỹ Wasingtơn Post rất có uy tín sang Hà nội để thực hiện phỏng vấn tôi và Ls Nguyễn Văn Đài vào giữa tháng 10/2006. Việc này bị lộ là do nữ nhà báo Mỹ của tờ Time là Kay Jonson tại Hà nội nhờ một nhân viên người Việt Nam vô ý báo tin qua điện thoại mà công an đã nghe trộm được.
Một điều đáng chú ý nữa là trong buổi làm việc ngày hôm nay thì đoàn của ông Michael Orana cũng đã đặt câu hỏi với tôi khi ở trong nhà tù hơn 4 năm như vậy thì tôi có bị đánh đập, bị ngược đài, bị hành hạ gì không ? Tôi đã khẳng định là có bị kỷ luật và đưa đi cùm, biệt giam hơn 3 tháng rưỡi trong xà lim chỉ có gần 4 mét vuông từ giữa tháng 7/2003 đến cuối tháng 10 /2003 mới được trở về buồng chung, hồi tôi bị cầm tù “cải tạo “ trong phân trại 3 thuộc trại giam Nam Hà, tỉnh Hà Nam cách hôm nay đúng tròn 4 năm. Xà lim biệt giam giành cho việc kỷ luật các tù nhân rất ẩm thấp, chỉ có 1 lỗ thông hơi nơi cửa sắt của buồng giam nhỏ độ khoãng bằng bàn tay rất ngột ngạt, họ không cho tôi tắm rữa trong vòng 10 ngày, ghẽ lở khắp người và sống dưới cái nắng hè chói chang mà nhiệt độ lên đến gần 40 độ C. Đồng thời đêm đến thì bị cùm chân cố định xuống bệ nền ximăng đến lỡ loét cổ chân, không có khu vệ sinh phải dùng bô nhựa. Việc này tôi đã tố cáo với dư luận khi rời nhà tù đầu năm 2006 và tôi cũng đã thông tin về gia đình hồi năm 2003 sự vụ đó để làm bằng chứng cho cụ Hoàng Minh Chính trong chuyến đi chữa bệnh tại Hoa Kỳ. Và cụ đã điều trần tố cáo trước Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện Hoa Kỳ về trường hợp trong tù của tôi đã bị cùm và lở loét cổ chân đến nhiễm trùng rất nặng nề. Người cán bộ quản giáo tích cực thực hiện lệnh ngược đãi tệ hại trực tiếp tôi như vậy, hồi đó là trung úy cảnh sát trại giam Vũ Văn Tài sinh năm 1974 quê tỉnh Hà nam, đảng viên đảng CSVN (đến tháng 9/2003 thì Vũ Văn Tài được thăng lên thượng úy ).
Còn rất nhiều nhục hình khác nữa sau khi được tạm trở về từ xàlim kỷ luật, như bắt lao động nặng nhọc, khoán ngày công làm việc rất cao không còn thời gian nghỉ ngơi, tắm giặt, đọc sách báo, nếu không hoàn thành đủ định mức sẽ bị phạt kỷ luật không cho gặp gia đình, không cho viết thư về nhà hàng tháng, không cho mua thêm đồ thực phẩm và hàng ngày phải đi thẩm vấn trong trại giam rất căng thẳng. Khi nói đến đây thì tôi đã đưa cho phái đoàn của ông Michael Orana xem các “sản phẩm do người tù làm ra” mà tôi từng phải “lao động cải tạo” ở trong tù và có hình ảnh chụp khi tôi giới thiệu với đoàn ông Michael Orona và cô Nancy N. Trân về việc này làm họ rất xúc động và hỏi kỹ hơn tình hình tôi đã phải chịu đựng khi ấy. Tôi nói thêm : “Các sản phẩm này được làm ra lại được xuất khẩu đi các nước dân chủ văn minh như Bắc Mỹ, Châu Âu…đó quả thật là một bi kịch. Vì các mặt hàng thủ công này do những tù nhân vì chính trị, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo là người Việt và các sắc tộc người Thượng ở Tây Nguyên làm ra !!!”. Sau khi vừa dứt lời và được người phiên dịch nói lại, thì cả ông Michael Ôrôna và cô Nancy N. Trân rất đỗi ngạc nhiên và họ đã ghi chép tất cả phát biểu đầy cảm xúc ấn tượng đó của tôi.

Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn đang giới thiệu với ông Michael Ôrona một trong những sản phẩm mà ông và các tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo là đồng bào sắc tộc người Thượng ở Tây nguyên phải lao động trong tù làm ra. Đó là các khung gương bằng mây, tre này được đan thủ công sau đó xuất khẩu sang thị trường các nước dân chủ văn minh ở Âu Châu và Bắc Mỹ…
Ông Michael Orona cho biết, tôi là người tranh đấu mà phía chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm và việc ra tù của tôi là kết quả của nỗ lực vận động không ngừng cũng như áp lực rất mạnh mẽ của Chính phủ, Quốc hội… Hoa Kỳ. Cụ thể là từ tổng thống Bush đến bà ngoại trưởng C. Rice, cùng nhiều dân biểu khác khi gặp làm việc với các quan chức chính phủ CS Hà Nội sang Hoa Kỳ, cũng như khi phái đoàn phía Mỹ sang làm việc tại Hà Nội. Vì thế cho nên tôi có được áp lực từ chính giới Hoa Kỳ đòi phải trả tự do sớm hơn án tù dài 12 năm mà nhà nước CSVN đã kết án.
Tôi khẳng định là có biết việc này thông qua thông tin ít ỏi từ gia đình khi mỗi lần vào thăm nuôi tôi trong tù và ông Michael Orona có hỏi tôi là có biết trước việc được trả tự do không ? Tôi nói là biết được trước chỉ gần nửa giờ đồng hồ, còn trước đó hơn 1 năm, vào giữa tháng 4 năm 2004, liên tục có một đ
oàn cán bộ của tổng cục an ninh – bộ công an do các thượng tá phó phòng thuộc cục A 42 là Phạm Văn Chinh và Nguyễn Thiện Hân đã chỉ đạo ban giám thị trại giam Nam Hà mời tôi từ trong buồng giam được ngừng lao động để viết kiểm điểm nhận tội và nhà nước xem xét quá trình gọi là cải tạo tư tưởng. Nếu thời gian đó tôi viết bản nhận tội, thừa nhận việc đã xét xử là đúng pháp luật theo sự đạo diễn của bộ công an nhà nước CSVN, thì tôi đã được thả cùng đợt với Lê Chí Quang vào ngày 12/6/2004. Nhưng do tôi kiên quyết không nhận tội, không viết kiểm điểm theo ý họ muốn, tôi vẫn khẳng định mình vô tội, khẳng định vụ án hoàn toàn phi pháp, vi phạm nghiêm trọng các điều của chính Bộ Luật Tố tụng hình sự nước CH XHCN VN. Tôi đã kiên quyết đòi được đưa ra tòa giám đốc thẩm để xét xử lại một cách toàn diện, triệt để toàn bộ vụ án đúng pháp luật kể cả đem cụ Hoàng Minh Chính, ông Nguyễn Thanh Giang, cụ Trần Độ, Ts Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Hoàng Tiến, ông Lê Hồng Hà… cùng nhiều người khác có liên quan đến vụ án chính trị này. Và tôi sẵn sàng bất chấp án xử lại có thể tới 20 năm hoặc chung thân, tử hình. Bởi vì tôi không hoạt động đơn độc đấu tranh đòi dân chủ một mình, mà mọi hoạt động yêu nước và vì nhân quyền của tôi đều liên quan đến toàn bộ những nhà tranh đấu trong cả phong trào rất cụ thể. Nhưng tiếc rằng phía nhà nước đã dứt khoát từ chối vụ xử đó, chỉ yêu cầu tôi nhận tội để nhà nước xem xét thả sớm. ( Năm 2002 khi còn bị biệt giam tại trại B 14, tôi vẫn kiên quyết kể cả tuyệt thực 12 ngày đòi được đưa tướng Trần Độ cùng ra tòa xét xử cùng tôi. Còn cụ đã sẵn sàng ngồi trên xe lăn ra trước phiên tòa đó để trả lời trước tòa án của đảng CSVN và nhà nước XHCN những liên đới của cụ với tôi một cách đàng hoàng. Nhưng đến tháng 8 năm 2002 thì tôi được người quản giáo đội trưởng, trung tá an ninh tổng cục 1 Nguyễn Tiến Thịnh báo tin tướng Trần Độ đã mất. Tất cả những nội dung này được tôi tuyên bố công khai trước cả 2 cấp xử sơ và phúc thẩm ngày 20/12/2002 và 30/3/2003 tại Hà nội).
Tôi đã tiếp tục kể cho ông Michael Orona biết những diễn tiến trong thời gian lao tù như sau:
Chính vì sự từ chối viết nội dung kiểm điểm theo dàn dựng của tổng cục an ninh- bộ công an như thế của tôi, nên tôi đã không làm đạt được như mong muốn của họ. Trái lại, trong dịp này tôi đã viết bản tự thuật lý lịch + bản phản kháng dài 58 trang, trong đó gần 20 trang viết về lý lịch gia đình và cá nhân, hơn 30 trang còn lại là nội dung phản bác quyết liệt vụ án đàn áp chính trị chỉ nhằm riêng một mình cá nhân tôi. Hiện nay tổng cục an ninh, bộ công an, cục A 42 và ban giám thị trại Nam Hà vẫn lưu giữ một cách tuyệt mật bản viết tay quan trọng này. Trong nội dung bài viết phản bác đó, tôi trích dẫn từng điểm một trong Bộ luật hình sự, trong Bộ luật tố tụng, trong Hiến pháp, trong Công ước Quốc tế về Quyền con người để nói rằng là tôi hoàn toàn vô tội. Và việc thả tôi sớm hay không là tùy thiện chí của nhà nước Việt Nam, tôi không xin khoan hồng giảm án tù bằng cách đó !!! Trong bản phản kháng dài 58 trang này tôi đã viết trong buồng giam số 1 phân trại A – Nam Hà từ ngày 18/4/2004 đến cuối tháng 4/2004, tôi đã dãn chứng tới 31 điều trong Bộ luật tố tụng hình sự và các điều luật khác để chứng minh các cơ quan gọi là bảo vệ pháp luật của nhà nước XHCN VN, từ cơ quan an ninh điều tra A 24 bộ công an ra kết luận điều tra vụ án, viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và tối cao, đến tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và tòa án nhân dân tối cao đã vi phạm nghiêm trọng chính pháp luật nhà nước hiện hành ra sao. Tuy nhiên, nếu tôi được thả sớm thì cá nhân tôi tin chắc rằng dư luận trong nước và quốc tế cũng rất hoan nghênh và đánh giá cao việc làm đó của chính phủ Việt Nam.
Đến khoảng cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2005 do có xuất hiện sự kiện lá thư viết tay của tôi được gửi ra bên ngoài gửi về thăm hỏi gia đình nhờ qua một người tù được đặc xá nhân dịp 30/4/2005, sau đó được Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang công bố trên Mạng internet khá rộng rãi. Thì ngay sau đó ít hôm, vào ngày 10/ 6/2005 một đoàn cán bộ cục A 42 – tổng cục an ninh do các thượng tá phó phòng Bùi Văn Cường và Nguyễn Thiện Hân lại tức tốc từ Hà Nội xuống làm việc với tôi đến tối mịt chưa trở về….Chính vì nội bức thư chân thành này của tôi đề cập đến lập trường của cả phía nhà nước và cá nhân tôi một cách thẳng thắn, thực tâm. Nên trong các dịp 4 lần đặc xá tha tù trong 2 năm 2004-2005 tôi đều không có tên. Sắp tới đợt đặc xá cuối cùng dịp quốc khánh mùng 2/9/2005, ngày 26 tháng 8 /2005 phó giám thị trại giam Nam Hà là thượng tá Phạm Hồng Cánh đã mời tôi lên thông báo rõ ràng như vậy.